Cảm nhận của em về bài Chiều tối của Hồ Chí Minh

A/ MỞ BÀI

_ Hồ Chí Minh tên thiếu thời là Nguyễn Sinh Cung,tên thời kỳ đầu hoạt động là Nguyễn ái Quốc . Người  sinh ngày 19-5-1890. Tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ A. Cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là cụ Hoàng Thị Loan.

_ Năm 1911 Bác ra đi tìm đường cứu nước, và kể từ ngày đó đến khi mất, toàn bộ cuộc đời của Người gắn bó chặt chẽ với Cách mạng Việt Nam, với dân tộc Việt Nam.

_ Hồ Chí Minh vào đời không phải mục đích là làm văn nghệ. Nhưng thực tế, Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương vô giá.Như Nhật ký trong tù, Tuyên ngôn Độc lập, Truyện và ký Nguyễn Ái Quốc

_ Văn chương Hồ Chí Minh đã kết hợp được sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và  nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. mỗi loại hình văn học của người đều có phong cách riêng, độc đáo , hấp dẫn và có giá trị bền vững.

_Và bạn đọc còn nhớ mãi tập Nhật ký trong tù với bài thơ là Chiều tối

B/ THÂN BÀI

I/ GIỚI THIỆU CHUNG

1/ XUẤT XỨ

 _ Bài thơ được rút trong tập NKTT

_ Trên đường chuyển lao khổ ải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc ,Bác Hồ viết liền năm bài thơ .Chiều Tối là bài thơ thứ ba trong chùm thơ này .

2/ CHỦ ĐỀ :

Bài thơ được sáng tác theo thể thơ Đường luật  thất ngôn tứ tuyệt. Vì thế nó mang đậm phong vị Đường thi ở bút pháp nghệ thuật lấy cảnh để ngụ tình, lấy động tả tĩnh, lấy ít gộ nhiều. Nhưng Bài thơ còn được sáng tác bởi người Cộng sản Hồ Chí Minh nên bên cạnh phong vị cổ điển nó đây còn là một bài thơ  hiện đại. Chất hiện đại được bộc lộ ở sự vận động của hình tượng thơ, nhất là tấm lòng tư tưởng của thi nhân :yêu thiên nhiên, yêu con người, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ Hồ Chí Minh

 

II/ CẢM NHẬN:

1/ Bài thơ được mở đầu bằng một bức tranh phong cảnh thiên nhiên

           Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

              Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

 Nhà thơ không trực tiếp nói về thời gian nhưng

*/ thời gian vẫn hiện về qua cảnh vật :

- Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chim bay về tổ đúng là dấu hiệu của chiều tối, chiều muộn.

Điều này ta thường thấy trong thơ ca : như: “chim bay về núi tối rồi”(ca dao); “chim hôm thoi thót về rừng”(TK); “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”(BHTQ); “Mây vẩn tầng không chim bay đi”(XD); “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”(HC).

Có thể nói hình ảnh chim bay về tổ, về rừng sau một ngày kiếm ăn là hình ảnh tiêu biểu mang ý nghĩa thời gian  là cách cảm nhận thời gian mang tính truyền thống mang phong vị Đường thi.

Thời gian còn hiện về qua

_ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

 Hai chi tiết phác họa mà gợi lên cái hồn của cảnh vật, ngày tàn màn đêm buông xuống, tạo vật dần chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi,

Cũng ở hai câu thơ đầu, ta con cảm nhận

*/không gian của bức tranh thơ là ở chốn núi rừng với ánh sáng của ngày tàn

_ chim mỏi về rừng àchốn rừng núi mặt đất âm u

Còn bầu trời thì sao ?

– Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

 Ánh sáng làm nền cho khung cảnh thơ là ánh sáng mặt trời vào lúc sắp tắt hẳn ở chốn núi rừng nên trong ánh sáng như thế ta chỉ có thể nhìn thấy đỉnh trời . Người tù ngẩng đầu lên nhìn lên đỉnh trời, nhận ra con chim bay về tổ và chòm mây lững lờ trôi. Điều này nhà thơ không nói, nhưng người đọc có thể cảm nhận được như thế

Cảnh chiều hôm nơi xóm núi kia được đặc tả qua hai câu thơ thất ngôn vừa hình tượng vừa gợi cảm. mặt đất thì âm u mà bầu trời thì rộng lớn thoáng đãng  

Hai câu thơ mang vẻ đẹp cổ điển:  Tả ít mà gợi nhiều , mượn điểm để vẽ diện, lấy động để gợi cái tĩnh, lấy cái cực nhỏ , đơn chiếc để diễn tả cái bát ngát mênh mông.

Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả tĩnh lặng hơn. Và như vậy buổi chiều trên đường chuyển lao của tác giả sao mà phảng phất những buổi chiều mà hình sắc đã vĩnh viễn đọng lại trong thơ ca cổ.

Và tất cả đều chứa đầy tâm trạng

* / Tâm trạng nhà thơ

Cảnh bao giờ cũng ngụ tình : Cánh chim chiều của tác giả không phải đang bay trong trạng thái bình thường mà là :

_ “Quyện điểu qui lâm”-“chim mỏi về rừng”. Suốt ngày bay đi kiếm ăn, cánh chim cũng mệt mỏi. Hình ảnh chim chiều nhưng cũng là  Hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của nhà thơ . Nhà thơ cũng mệt mỏi sau một ngày lê bước trên con đường đi đày. Giờ đây không biết đâu là chặng nghỉ chân qua đêm

Câu thơ thứ hai nhà thơ tiếp tục phác hoạ tâm trạng :

_ Cô vân mạn mạn độ thiên khôngà Chòm mây như có tâm hồn, như mang tâm trạng.

Nó cô đơn lẻ loi và lặng lẽ lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều. Bầu trời có chim, có mây nhưng mây lẻ loi, chim mệt mỏi. Đã thế lại đang ở cảnh ngộ chia lìa. Chim bay về rừng, chòm mây ở lại giữa từng không.

Hai câu thơ tả cảnh mà mở ra cả một không gian tâm trạng,cảnh buồn, người buồn.

Vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây cô đơn trôi lẻ loi chầm chậm về phía trời xa gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người. Và không biết tới bao giờ nhà thơ mới được tự do như cánh chim và chòm mây trên bầu trời kia

Nhưng cũng qua hai câu thơ này ta hiểu thêm được nét đẹp trong tâm hồn nhà thơ là :

Dù ở bất kì hoàn cảnh nào, dù phải sống giữa muôn ngàn cực khổ kể cả lúc thân thể mất tự do, Bác vẫn luôn giữ cho mình một tình yêu say đắm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, luôn hoà hồn mình vào hồn của trời đất rộng lớn với sự tự do tuyệt đối của tinh thần như Bác đã từng nói : Vui say ai cấm ta đừng, đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu. Và cũng qua nỗi buồn đó qua tư thế ngẩng đầu dõi theo một cánh chim một chòm mây,ta còn thấy một khát vọng tự do cũng như chất thép Hồ Chí Minh

 2/ Hai câu sau

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

Nếu hai câu thơ đầu cảnh vật hiện ra trong những nét chấm phá phần nào mang tính ước lệ cổ điển với chim muông mây trời thì đến hai câu sau là  Cảnh sinh hoạt gần gũi và ấm áp trên mặt đất.

Hiện ra ở trung tâm bài thơ lúc này là một thiếu nữ sơn thôn với công việc lao động bên bếp lửa gia đình. Một chất thơ khác một hơi thở trữ tình khác làm cho vẻ đẹp của buổi chiều thêm hài hoà phong phú, làm cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại hơn

Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang tắt dần, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả

*/ Thời gian , nhưng ai cũng biết,

_ Đất trời đã vào đêm, bóng tối ken dày muôn nơi.

 thời gian được vận động theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối xay ngô, quay mãi “Ma bao túc – Bao tức ma hoàn”, và đến khi cối xay ngô dừng lại thì “Lô dĩ hồng”, lò than đã rực hồng. Thực ra cái lò lửa ấy không phải đúng lúc đó mới bật sáng lên . Nó vẫn đỏ lên rồi, nhưng phải đến khi ánh trời tắt hẳn, núi rừng mù mịt thì tự nhiên con người ta chỉ nhìn thấy nơi đâu có ánh lửa. Và vì thế lúc xay ngô xong, trời tối hẳn nên mới nhìn thấy nó rực hồng lên Hình ảnh cô gái hiện ra bên bếp lò lửa đỏ đến với nhà thơ một cách tự nhiên như thế thôi. Và như thế, trong nguyên tác Bác không dùng chữ tối vậy mà ta vẫn nhận ra trời đổ tối. Bác dùng cái sáng để nói cái tối.

Bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối. Nhưng không phải là đêm tối lạnh lẽo âm u như cảm nhận của người xưa mà là một đêm tối ấm áp sáng bừng rực lửa

          Sự vận động của thời gian bất ngờ và khoẻ khoắn.

 Cùng với sự vận động về thời gian ta còn thấy sự vận động trong

*/ Tâm trạng của nhà thơ

Thực ra trong nhưng bài thơ vịnh cảnh chiều hôm xưa cũng thấp thoáng bóng người, cũng chứa đầy tâm trạng : Lom khom dưới núi tiều vài chú – Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Cảnh có con người mà thiếu vắng sự sống. Con người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của trời đất thiên nhiên. Còn trong bài thơ của Bác, trên nền cảnh của thiên nhiên rộng lớn, con người, sự sống của con người , ngọn lửa của con người bỗng trở thành tụ điểm, thành trung tâm toả ấm nóng và niềm vui ra tất cả.

_ Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc – lô dĩ hồng : có hình ảnh cô gái toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động, có cảnh làm ăn bình dị : xay ngô, có lò than đã rực hồng. Các chi tiết nghệ thuật ấy làm

                    hiện lên một mái ấm gia đình, một cảnh đời dân dã bình dị ấm áp

Và như vậy àKhông phải thiên nhiên làm chủ mà con người mới là chủ thể, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, con người đã tạo nên ánh sáng và hơi ấm cho con người, cho cảnh thiên nhiên. Chính cảnh xay ngô của thiếu nữ và lò than đã rực hồng kia đã àlàm vợi đi những đau khổ của người đi đày qua miền sơn cước xa lạ àNó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui hạnh phúc trong lao động của con người. Nói cách khác Nó là điểm tựa tâm hồn cho một tù nhân Cộng Sản Hồ Chí Minh

Và cũng chính nhờ điểm tựa tâm hồn ấy mà Bác có thể cảm nhận  được một cuộc đời một con người dù là bình thường nhỏ bé nơi xóm núi heo hút trong hoàn cảnh ngặt nghèo của bản thân :

_ Sơn thôn thiếu nữ  Ma bao túc – bao túc ma hoàn lô dĩ hồng à Điệp ngữ vừa làm cho lời thơ giàu nhạc điệu, vừa diễn tả sự chuyển động vòng tròn nặng nề của cối xay ngô. Qua đó ta cảm nhận được sự trân trọng của nhà thơ trước đức tính cầm mẫn của thiếu nữ xóm núi

Bài thơ được sáng tác theo thơ Đường luật. Và Bác không chỉ tiếp thu tinh hoa của thơ Đường, mà còn nhà thơ còn đem vào hình thức chật hẹp của thơ Đường tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Điều đó được thể hiện ở câu kết của bài thơ

Bai thơ không khép lại trong sự mệt mỏi vội vã củaầính chim, trong sự uể oải cô đơn của chòm mây, trong sự nặng nề của cối xay ngô(_  ba câu thơ trên:  sự mệt mỏi, vội vã, nặng nề ) mà Bác khép lại bài thơ bằng một chữ  (_ “hồng”)

                                   Bác đã làm sáng rực toàn bộ bài thơ,

đã làm mất đi sự mệt mỏi uể oải, vội vã, sự nặng nề diễn tả ở trên, đã làm sáng rực cả khuôn mặt cô em xóm núi, nhuốm hồng lên cả bóng đêm bơỉ cái tình của  Bác.

Như vậy à tâm trạng của nhà thơ được vận động từ buồn đến vui từ lạnh lẽo cô đơn đến nóng ấm từ lụi tàn đến sự sống..

Qua hai câu thơ em nhận thấy nét đẹp  trong tâm hồn nhà thơ :

Phải chăng àđó là lòng lạc quan, yêu đời yêu người vô hạn của Bác

Trong cảnh ngộ đau khổ của riêng mình : Đằng sau lưng là một ngày đi đường vất vả, thường là đi từ rất sớm 53 cây số một ngày.áo mũ dầm mưa rách hết giầy. Trước mắt có cái gì chờ đón . Một xó nhà tù khác lạnh lẽo và đầy muỗi rệp, cái bụng lại đói meo. Đã thế cái tối lại sập xuống nơi núi rừng mà bước chân lưu đày của Người nơi đất khách tha hương vẫn chưa được dừng bước. Trong hoàn cảnh đó chúng ta vẫn có thể chờ đợi ở Bác một sự chạnh nghĩ đến mình, một thoáng thương thân, như một số bài thơ khác ta thường gặp. Và nếu tứ thơ có phát triển theo hướng đó thì cũng là phải lẽ và có thể cũng rất hay rất lớn. Nhưng giữa bao tăm tối dày đặc đó : Bác vẫn cảm thương với những người lao động nghèo khổ Mà cuộc đời họ quẩn quanh vất vả, nặng nề như vòng quay của chiếc cối xay ngô. Ma bao túc – Bao túc ma hoàn. Và cũng giữa bao nhiêu cực nhọc vất vả của riêng mình mà Bác vẫn cảm thấy vui, thấy rung động thấm thía niềm hạnh phúc yên ấm, bình dị rất đời thường của cô sơn nữ khi hoàn thành công việc và lò than đã rực hồng “cô em … rực hồng”

III/ KẾT LUẬN:

Chỉ bằng bốn nét vẽ : cảnh chim chiều, áng mây lơ lửng trôi nhè nhẹ, thiếu nữ và lò than, Bác để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc trong thơ ca VN. Nhưng có lẽ không chỉ có thế mà qua bài thơ ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ của Bác

 

 

Cảm nhận của em về bài Chiều tối của Hồ Chí Minh

  A/ MỞ BÀI

_ Hồ Chí Minh tên thiếu thời là Nguyễn Sinh Cung,tên thời kỳ đầu hoạt động là Nguyễn ái Quốc . Người  sinh ngày 19-5-1890. Tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ A. Cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là cụ Hoàng Thị Loan.

_ Năm 1911 Bác ra đi tìm đường cứu nước, và kể từ ngày đó đến khi mất, toàn bộ cuộc đời của Người gắn bó chặt chẽ với Cách mạng Việt Nam, với dân tộc Việt Nam.

_ Hồ Chí Minh vào đời không phải mục đích là làm văn nghệ. Nhưng thực tế, Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương vô giá.Như Nhật ký trong tù, Tuyên ngôn Độc lập, Truyện và ký Nguyễn Ái Quốc

_ Văn chương Hồ Chí Minh đã kết hợp được sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và  nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. mỗi loại hình văn học của người đều có phong cách riêng, độc đáo , hấp dẫn và có giá trị bền vững.

_Và bạn đọc còn nhớ mãi tập Nhật ký trong tù với bài thơ là Chiều tối

B/ THÂN BÀI

I/ GIỚI THIỆU CHUNG

1/ XUẤT XỨ

 _ Bài thơ được rút trong tập NKTT

_ Trên đường chuyển lao khổ ải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc ,Bác Hồ viết liền năm bài thơ .Chiều Tối là bài thơ thứ ba trong chùm thơ này .

2/ CHỦ ĐỀ :

Bài thơ được sáng tác theo thể thơ Đường luật  thất ngôn tứ tuyệt. Vì thế nó mang đậm phong vị Đường thi ở bút pháp nghệ thuật lấy cảnh để ngụ tình, lấy động tả tĩnh, lấy ít gộ nhiều. Nhưng Bài thơ còn được sáng tác bởi người Cộng sản Hồ Chí Minh nên bên cạnh phong vị cổ điển nó đây còn là một bài thơ  hiện đại. Chất hiện đại được bộc lộ ở sự vận động của hình tượng thơ, nhất là tấm lòng tư tưởng của thi nhân :yêu thiên nhiên, yêu con người, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ Hồ Chí Minh

 

II/ CẢM NHẬN:

1/ Bài thơ được mở đầu bằng một bức tranh phong cảnh thiên nhiên

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

              Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

 Nhà thơ không trực tiếp nói về thời gian nhưng

*/ thời gian vẫn hiện về qua cảnh vật :

- Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chim bay về tổ đúng là dấu hiệu của chiều tối, chiều muộn.

Điều này ta thường thấy trong thơ ca : như: “chim bay về núi tối rồi”(ca dao); “chim hôm thoi thót về rừng”(TK); “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”(BHTQ); “Mây vẩn tầng không chim bay đi”(XD); “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”(HC).

Có thể nói hình ảnh chim bay về tổ, về rừng sau một ngày kiếm ăn là hình ảnh tiêu biểu mang ý nghĩa thời gian  là cách cảm nhận thời gian mang tính truyền thống mang phong vị Đường thi.

Thời gian còn hiện về qua

_ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

 Hai chi tiết phác họa mà gợi lên cái hồn của cảnh vật, ngày tàn màn đêm buông xuống, tạo vật dần chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi,

Cũng ở hai câu thơ đầu, ta còn cảm nhận

*/không gian của bức tranh thơ là ở chốn núi rừng với ánh sáng của ngày tàn

_ chim mỏi về rừng chốn rừng núi mặt đất âm u

Còn bầu trời thì sao ?

– Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

Ánh sáng làm nền cho khung cảnh thơ là ánh sáng mặt trời vào lúc sắp tắt hẳn ở chốn núi rừng nên trong ánh sáng như thế ta chỉ có thể nhìn thấy đỉnh trời . Người tù ngẩng đầu lên nhìn lên đỉnh trời, nhận ra con chim bay về tổ và chòm mây lững lờ trôi. Điều này nhà thơ không nói, nhưng người đọc có thể cảm nhận được như thế

Cảnh chiều hôm nơi xóm núi kia được đặc tả qua hai câu thơ thất ngôn vừa hình tượng vừa gợi cảm. mặt đất thì âm u mà bầu trời thì rộng lớn thoáng đãng  

Hai câu thơ mang vẻ đẹp cổ điển: Tả ít mà gợi nhiều , mượn điểm để vẽ diện, lấy động để gợi cái tĩnh, lấy cái cực nhỏ , đơn chiếc để diễn tả cái bát ngát mênh mông.

Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả tĩnh lặng hơn. Và như vậy buổi chiều trên đường chuyển lao của tác giả sao mà phảng phất những buổi chiều mà hình sắc đã vĩnh viễn đọng lại trong thơ ca cổ.

Và tất cả đều chứa đầy tâm trạng

* / Tâm trạng nhà thơ

Cảnh bao giờ cũng ngụ tình : Cánh chim chiều của tác giả không phải đang bay trong trạng thái bình thường mà là :

_ “Quyện điểu qui lâm”-“chim mỏi về rừng”. Suốt ngày bay đi kiếm ăn, cánh chim cũng mệt mỏi. Hình ảnh chim chiều nhưng cũng là  Hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của nhà thơ . Nhà thơ cũng mệt mỏi sau một ngày lê bước trên con đường đi đày. Giờ đây không biết đâu là chặng nghỉ chân qua đêm

Câu thơ thứ hai nhà thơ tiếp tục phác hoạ tâm trạng :

_ Cô vân mạn mạn độ thiên khôngà Chòm mây như có tâm hồn, như mang tâm trạng.

Nó cô đơn lẻ loi và lặng lẽ lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều. Bầu trời có chim, có mây nhưng mây lẻ loi, chim mệt mỏi. Đã thế lại đang ở cảnh ngộ chia lìa. Chim bay về rừng, chòm mây ở lại giữa từng không.

Hai câu thơ tả cảnh mà mở ra cả một không gian tâm trạng,cảnh buồn, người buồn.

Vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây cô đơn trôi lẻ loi chầm chậm về phía trời xa gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người. Và không biết tới bao giờ nhà thơ mới được tự do như cánh chim và chòm mây trên bầu trời kia

Nhưng cũng qua hai câu thơ này ta hiểu thêm được nét đẹp trong tâm hồn nhà thơ là :

Dù ở bất kì hoàn cảnh nào, dù phải sống giữa muôn ngàn cực khổ kể cả lúc thân thể mất tự do, Bác vẫn luôn giữ cho mình một tình yêu say đắm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, luôn hoà hồn mình vào hồn của trời đất rộng lớn với sự tự do tuyệt đối của tinh thần như Bác đã từng nói : Vui say ai cấm ta đừng, đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu. Và cũng qua nỗi buồn đó qua tư thế ngẩng đầu dõi theo một cánh chim một chòm mây,

ta còn thấy một khát vọng tự do

 cũng như chất thép Hồ Chí Minh

 2/ Hai câu sau

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

Nếu hai câu thơ đầu cảnh vật hiện ra trong những nét chấm phá phần nào mang tính ước lệ cổ điển với chim muông mây trời thì đến hai câu sau là  Cảnh sinh hoạt gần gũi và ấm áp trên mặt đất.

Hiện ra ở trung tâm bài thơ lúc này là một thiếu nữ sơn thôn với công việc lao động bên bếp lửa gia đình. Một chất thơ khác một hơi thở trữ tình khác làm cho vẻ đẹp của buổi chiều thêm hài hoà phong phú, làm cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại hơn

Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang tắt dần, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả

*/ Thời gian , nhưng ai cũng biết,

_ Đất trời đã vào đêm, bóng tối ken dày muôn nơi.

 thời gian được vận động theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối xay ngô, quay mãi “Ma bao túc – Bao tức ma hoàn”, và đến khi cối xay ngô dừng lại thì “Lô dĩ hồng”, lò than đã rực hồng. Thực ra cái lò lửa ấy không phải đúng lúc đó mới bật sáng lên . Nó vẫn đỏ lên rồi, nhưng phải đến khi ánh trời tắt hẳn, núi rừng mù mịt thì tự nhiên con người ta chỉ nhìn thấy nơi đâu có ánh lửa. Và vì thế lúc xay ngô xong, trời tối hẳn nên mới nhìn thấy nó rực hồng lên Hình ảnh cô gái hiện ra bên bếp lò lửa đỏ đến với nhà thơ một cách tự nhiên như thế thôi. Và như thế, trong nguyên tác Bác không dùng chữ tối vậy mà ta vẫn nhận ra trời đổ tối. Bác dùng cái sáng để nói cái tối.

Bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối. Nhưng không phải là đêm tối lạnh lẽo âm u như cảm nhận của người xưa mà là một đêm tối ấm áp sáng bừng rực lửa

          Sự vận động của thời gian bất ngờ và khoẻ khoắn.

 Cùng với sự vận động về thời gian ta còn thấy sự vận động trong

*/ Tâm trạng của nhà thơ

Thực ra trong nhưng bài thơ vịnh cảnh chiều hôm xưa cũng thấp thoáng bóng người, cũng chứa đầy tâm trạng : Lom khom dưới núi tiều vài chú – Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Cảnh có con người mà thiếu vắng sự sống. Con người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của trời đất thiên nhiên. Còn trong bài thơ của Bác, trên nền cảnh của thiên nhiên rộng lớn, con người, sự sống của con người , ngọn lửa của con người bỗng trở thành tụ điểm, thành trung tâm toả ấm nóng và niềm vui ra tất cả.

_ Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc – lô dĩ hồng : có hình ảnh cô gái toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động, có cảnh làm ăn bình dị : xay ngô, có lò than đã rực hồng. Các chi tiết nghệ thuật ấy làm

                    hiện lên một mái ấm gia đình, một cảnh đời dân dã bình dị ấm áp

Và như vậy àKhông phải thiên nhiên làm chủ mà con người mới là chủ thể, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, con người đã tạo nên ánh sáng và hơi ấm cho con người, cho cảnh thiên nhiên. Chính cảnh xay ngô của thiếu nữ và lò than đã rực hồng kia đã àlàm vợi đi những đau khổ của người đi đày qua miền sơn cước xa lạ àNó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui hạnh phúc trong lao động của con người. Nói cách khác  Nó là điểm tựa tâm hồn cho một tù nhân Cộng Sản Hồ Chí Minh

Và cũng chính nhờ điểm tựa tâm hồn ấy mà Bác có thể cảm nhận  được một cuộc đời một con người dù là bình thường nhỏ bé nơi xóm núi heo hút trong hoàn cảnh ngặt nghèo của bản thân :

_ Sơn thôn thiếu nữ  Ma bao túc – bao túc ma hoàn lô dĩ hồng à Điệp ngữ vừa làm cho lời thơ giàu nhạc điệu, vừa diễn tả sự chuyển động vòng tròn nặng nề của cối xay ngô. Qua đó ta cảm nhận được sự trân trọng của nhà thơ trước đức tính cầm mẫn của thiếu nữ xóm núi

Bài thơ được sáng tác theo thơ Đường luật. Và Bác không chỉ tiếp thu tinh hoa của thơ Đường, mà còn nhà thơ còn đem vào hình thức chật hẹp của thơ Đường tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Điều đó được thể hiện ở câu kết của bài thơ

Bai thơ không khép lại trong sự mệt mỏi vội vã của cánh chim, trong sự uể oải cô đơn của chòm mây, trong sự nặng nề của cối xay ngô(_  ba câu thơ trên:  sự mệt mỏi, vội vã, nặng nề ) mà Bác khép lại bài thơ bằng một chữ  (_ “hồng”)

                                   Bác đã làm sáng rực toàn bộ bài thơ,

đã làm mất đi sự mệt mỏi uể oải, vội vã, sự nặng nề diễn tả ở trên, đã làm sáng rực cả khuôn mặt cô em xóm núi, nhuốm hồng lên cả bóng đêm bơỉ cái tình của  Bác.

Như vậy à tâm trạng của nhà thơ được vận động từ buồn đến vui từ lạnh lẽo cô đơn đến nóng ấm từ lụi tàn đến sự sống..

Qua hai câu thơ em nhận thấy nét đẹp  trong tâm hồn nhà thơ :đó là lòng lạc quan, yêu đời yêu người vô hạn của Bác

 

Trong cảnh ngộ đau khổ của riêng mình : Đằng sau lưng là một ngày đi đường vất vả, thường là đi từ rất sớm 53 cây số một ngày.áo mũ dầm mưa rách hết giầy. Trước mắt có cái gì chờ đón . Một xó nhà tù khác lạnh lẽo và đầy muỗi rệp, cái bụng lại đói meo. Đã thế cái tối lại sập xuống nơi núi rừng mà bước chân lưu đày của Người nơi đất khách tha hương vẫn chưa được dừng bước. Trong hoàn cảnh đó chúng ta vẫn có thể chờ đợi ở Bác một sự chạnh nghĩ đến mình, một thoáng thương thân, như một số bài thơ khác ta thường gặp. Và nếu tứ thơ có phát triển theo hướng đó thì cũng là phải lẽ và có thể cũng rất hay rất lớn. Nhưng giữa bao tăm tối dày đặc đó : Bác vẫn cảm thương với những người lao động nghèo khổ Mà cuộc đời họ quẩn quanh vất vả, nặng nề như vòng quay của chiếc cối xay ngô. Ma bao túc – Bao túc ma hoàn. Và cũng giữa bao nhiêu cực nhọc vất vả của riêng mình mà Bác vẫn cảm thấy vui, thấy rung động thấm thía niềm hạnh phúc yên ấm, bình dị rất đời thường của cô sơn nữ khi hoàn thành công việc và lò than đã rực hồng “cô em … rực hồng”

C/ KẾT LUẬN:

Chỉ bằng bốn nét vẽ : cảnh chim chiều, áng mây lơ lửng trôi nhè nhẹ, thiếu nữ và lò than, Bác để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc trong thơ ca VN. Nhưng có lẽ không chỉ có thế mà qua bài thơ ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ của Bác

 

 

Mừng sinh nhật anh

Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

I/ Mở bài

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng HớiQuảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941). Do Ông có một cuộc đời đầy đau thương Nên hồn thơ của ông mãnh liệt nhưng quằn quại và đau đớn giữa linh hồn và thể xác. Mặc dù vậy, ông vẫn luôn gắn bó với cuộc đời, tạo nên những hình ảnh nghệ thuật tuyệt mĩ. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những kiệt tác tiêu biểu cho hồn thơ của Hàn Mặc Tử . Người đọc còn mãi ám ảnh bởi những vần thơ ấy

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

II/ Thân bài

1/

Đây thôn Vĩ Dạ , được sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ Điên (về sau đổi tên thành Đau thương).

Bài thơ lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ . Thi phẩm được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ Dạ tên là Hoàng Thị Kim Cúc. . Trong những ngày tháng vật lộn với cơn bệnh hiểm nghèo, Hàn Mặc Tử nhận được tấm bưu ảnh về phong cảnh xứ Huế có sông nước xứ Huế cùng những dòng chữ hỏi thăm của Hoàng Kim Cúc. Xúc động, bồi hồi trước tấm lòng cố nhân, Hàn Mặc Tử đã sáng tác bài thơ này.

Bài thơ có 12 câu, chia làm 3 khổ, mỗi khổ thơ như một bức tranh tuyệt đẹp về xứ Huế mộng mơ. Và phải chăng đằng sau những bức tranh đẹp về xư Huế là tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương đất nước của tác giả

2/

Khổ một là bức tranh đẹp Vĩ Dạ lúc hừng đông

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Mở đầu khổ thơ là một câu hỏi tu từ vừa dịu ngọt như lời mời chào vừa thân mật như một lời trách cứ đáng yêu : Rằng đã lâu sao anh không về chơi thôn Vĩ và …thăm em ?

Nhưng đâu chỉ là sự mời chào, sự nhẹ nhàng trách cứ mà ẩn sâu bên trong là cả một nỗi niềm nuối tiếc.

Nuối tiếc vì cảnh đẹp thế, người đáng yêu thế mà sao đã lâu anh không về chơi ? Tất nhiên, đây là lời mời chào của cô gái nhưng nó được sống dậy trong hoài niệm của chàng trai. Và những hoài niệm đó gắn với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Cảnh được nói đến là một buổi bình minh. Nên :

+ Nắng mới lên là nắng buổi sáng sớm nhẹ nhàng tươi sáng, chiếu lấp lánh xuống những hàng cau, tàu cau còn ướt đẫm sương đêm.

+ Hai từ nắng trong một câu thơ đặt cách nhau gợi cho người đọc một cảm giác về sự chuyển động nhè nhẹ chầm chậm của ánh nắng ban mai.

Nắng lên, cỏ cây vườn tược như bừng sáng :

_ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

+ Cụm từ phiếm chỉ “Vườn ai” được đặt ở đầu câu thơ vừa dùng để hỏi nhưng vừa hàm ý bình phẩm xuýt xoa trước vẻ mướt quá, đẹp quá của vườn cây.Nhưng đồng thời nó cũng vừa hàm chút ngỡ ngàng bâng khuâng trong lòng tác giả : Vườn của nhà em đây hay vườn của nhà ai mà xanh thế, đẹp thế. Thực ra vẫn là vườn nhà em đấy thôi, vẫn là cảnh cũ người xưa đó thôi nhưng đã lâu chưa về chơi nên anh mới ngỡ ngàng trước sự mướt mát của cây cối mà thốt ra như vậy.

Mướt là sự êm mát mịn màng được cảm nhận bằng tay. Nhưng

+ Mướt quá của vườn cây lại được cảm nhận bằng mắt . Sự chuyển đổi cảm giác này, không chỉ gợi sự dịu dàng êm mát mơn mởn của cây lá trong vườn, mà còn như cho ta thấy sự xôn xao chuyển động của nhựa cây trong cây lá.

Vườn tược Vĩ Dạ xanh tươi bốn mùa và màu xanh đó được Hàn Mạc Tử ví :

+ Xanh như ngọc

Trong Thơ duyên, Xuân Diệu cũng đã từng viết : “ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá. Xanh như ngọc của Hàn Mạc Tử là thứ xanh non của lá câu còn đẫm sương được khuyếch tán bởi những tia nắng mặt trời còn trinh bách nguyên sơ chưa hề nhuốm bụi.

Cho nên hai tiếng mướt quá và hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” là những nét vẽ thần tình tô đậm cái hồn của cây lá trong vườn ai.

Và cảnh vật dường như sinh động hẳn lên khi thấp thoáng xuất hiện bóng người :

_ Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Thấp thoáng sau những lá trúc mảnh mai thanh tú là khuôn mặt đầy đặn ẩn chứa bên trong bản chất hiền lành trung thực. Phải chăng chính sự thanh mảnh xanh biếc của lá trúc càng tôn thêm vẻ đẹp phúc hậu của gương mặt chữ điền. Và như thế, ở đây, nhà thơ đã Lấy cái thanh mảnh để gợi cái mộc mạc.

Câu thơ như một bức hoạ thần tình Khắc hoạ vẻ đẹp kín đáo đáng yêu của con người xứ Huế

Bức bưu ảnh và lời thăm hỏi của Hoàng Cúc là khởi hứng của bài thơ, làm nhà thơ sống dậy một kí ức đẹp về Huế với cảnh vật tươi sáng trong trẻo lạ thường. Vĩ Dạ được miêu tả trong một buổi hừng đông có màu phơn phớt của bình minh, có màu xanh mướt của cây lá, có đường nét thanh mảnh xinh xắn của lá trúc và còn có cả gương mặt phúc hậu của con người. Người đẹp, cảnh đẹp đó chính là cái hồn của Vĩ Dạ thơ và mộng. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy vấn vương một hoài niệm, một tiếng nói thì thầm của tình yêu.

III/ Kết luận :

Hàn Mạc Tử đã cho ta những vần thơ hay. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ, bao nhiêu hình ảnh và cảm xúc đẹp  hội tụ trong khổ thơ. Một câu hỏi “Sao” dịu ngọt; màu “nắng mới” tươi sang trong trẻo; cái màu xanh như ngọc của vườn ai, và cả sự mướt quá của cây lá Vĩ Dạ sẽ còn làm ám ảnh lòng ta và còn làm ám ảnh biết bao bạn đọc khác

Cảm nhận về khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

I/ Mở bài

Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng HớiQuảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941). Do Ông có một cuộc đời đầy đau thương Nên hồn thơ của ông mãnh liệt nhưng quằn quại và đau đớn giữa linh hồn và thể xác. Mặc dù vậy, ông vẫn luôn gắn bó với cuộc đời, tạo nên những hình ảnh nghệ thuật tuyệt mĩ. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những kiệt tác tiêu biểu cho hồn thơ của Hàn Mặc Tử . Người đọc còn mãi ám ảnh bởi những vần thơ ấy

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

II/ Thân bài

1/

Đây thôn Vĩ Dạ , được sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu trong tập Thơ Điên (về sau đổi tên thành Đau thương).

Bài thơ lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ . Thi phẩm được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn Vĩ Dạ tên là Hoàng Thị Kim Cúc. . Trong những ngày tháng vật lộn với cơn bệnh hiểm nghèo, Hàn Mặc Tử nhận được tấm bưu ảnh về phong cảnh xứ Huế có sông nước xứ Huế cùng những dòng chữ hỏi thăm của Hoàng Kim Cúc. Xúc động, bồi hồi trước tấm lòng cố nhân, Hàn Mặc Tử đã sáng tác bài thơ này.

Bài thơ có 12 câu, chia làm 3 khổ, mỗi khổ thơ như một bức tranh tuyệt đẹp về xứ Huế mộng mơ. Và phải chăng đằng sau những bức tranh đẹp về xư Huế là tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương đất nước của tác giả

2/

Khổ một là bức tranh đẹp Vĩ Dạ lúc hừng đông

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Mở đầu khổ thơ là một câu hỏi tu từ vừa dịu ngọt như lời mời chào vừa thân mật như một lời trách cứ đáng yêu : Rằng đã lâu sao anh không về chơi thôn Vĩ và …thăm em ?

Nhưng đâu chỉ là sự mời chào, sự nhẹ nhàng trách cứ mà ẩn sâu bên trong là cả một nỗi niềm nuối tiếc.

Nuối tiếc vì cảnh đẹp thế, người đáng yêu thế mà sao đã lâu anh không về chơi ? Tất nhiên, đây là lời mời chào của cô gái nhưng nó được sống dậy trong hoài niệm của chàng trai. Và những hoài niệm đó gắn với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế.

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Cảnh được nói đến là một buổi bình minh. Nên :

+ Nắng mới lên là nắng buổi sáng sớm nhẹ nhàng tươi sáng, chiếu lấp lánh xuống những hàng cau, tàu cau còn ướt đẫm sương đêm.

+ Hai từ nắng trong một câu thơ đặt cách nhau gợi cho người đọc một cảm giác về sự chuyển động nhè nhẹ chầm chậm của ánh nắng ban mai.

Nắng lên, cỏ cây vườn tược như bừng sáng :

_ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

+ Cụm từ phiếm chỉ “Vườn ai” được đặt ở đầu câu thơ vừa dùng để hỏi nhưng vừa hàm ý bình phẩm xuýt xoa trước vẻ mướt quá, đẹp quá của vườn cây.Nhưng đồng thời nó cũng vừa hàm chút ngỡ ngàng bâng khuâng trong lòng tác giả : Vườn của nhà em đây hay vườn của nhà ai mà xanh thế, đẹp thế. Thực ra vẫn là vườn nhà em đấy thôi, vẫn là cảnh cũ người xưa đó thôi nhưng đã lâu chưa về chơi nên anh mới ngỡ ngàng trước sự mướt mát của cây cối mà thốt ra như vậy.

Mướt là sự êm mát mịn màng được cảm nhận bằng tay. Nhưng

+ Mướt quá của vườn cây lại được cảm nhận bằng mắt . Sự chuyển đổi cảm giác này, không chỉ gợi sự dịu dàng êm mát mơn mởn của cây lá trong vườn, mà còn như cho ta thấy sự xôn xao chuyển động của nhựa cây trong cây lá.

Vườn tược Vĩ Dạ xanh tươi bốn mùa và màu xanh đó được Hàn Mạc Tử ví :

+ Xanh như ngọc

Trong Thơ duyên, Xuân Diệu cũng đã từng viết : “ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá. Xanh như ngọc của Hàn Mạc Tử là thứ xanh non của lá câu còn đẫm sương được khuyếch tán bởi những tia nắng mặt trời còn trinh bách nguyên sơ chưa hề nhuốm bụi.

Cho nên hai tiếng mướt quá và hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” là những nét vẽ thần tình tô đậm cái hồn của cây lá trong vườn ai.

Và cảnh vật dường như sinh động hẳn lên khi thấp thoáng xuất hiện bóng người :

_ Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Thấp thoáng sau những lá trúc mảnh mai thanh tú là khuôn mặt đầy đặn ẩn chứa bên trong bản chất hiền lành trung thực. Phải chăng chính sự thanh mảnh xanh biếc của lá trúc càng tôn thêm vẻ đẹp phúc hậu của gương mặt chữ điền. Và như thế, ở đây, nhà thơ đã Lấy cái thanh mảnh để gợi cái mộc mạc.

Câu thơ như một bức hoạ thần tình Khắc hoạ vẻ đẹp kín đáo đáng yêu của con người xứ Huế

Bức bưu ảnh và lời thăm hỏi của Hoàng Cúc là khởi hứng của bài thơ, làm nhà thơ sống dậy một kí ức đẹp về Huế với cảnh vật tươi sáng trong trẻo lạ thường. Vĩ Dạ được miêu tả trong một buổi hừng đông có màu phơn phớt của bình minh, có màu xanh mướt của cây lá, có đường nét thanh mảnh xinh xắn của lá trúc và còn có cả gương mặt phúc hậu của con người. Người đẹp, cảnh đẹp đó chính là cái hồn của Vĩ Dạ thơ và mộng. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy vấn vương một hoài niệm, một tiếng nói thì thầm của tình yêu.

III/ Kết luận :

Hàn Mạc Tử đã cho ta những vần thơ hay. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ, bao nhiêu hình ảnh và cảm xúc đẹp  hội tụ trong khổ thơ. Một câu hỏi “Sao” dịu ngọt; màu “nắng mới” tươi sang trong trẻo; cái màu xanh như ngọc của vườn ai, và cả sự mướt quá của cây lá Vĩ Dạ sẽ còn làm ám ảnh lòng ta và còn làm ám ảnh biết bao bạn đọc khác

 

Phía trước là chân trời

phía-trước-là-chân-trời

Quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu qua bài Vội vàng

   I/ Mở bài :

Tác giả →Sự nghiệp →Vội vàng (hoàn cảnh ra đời → chủ đề →Quan niêm nhân sinh)

Xuân Diệu là nhà thơ lớn của văn học hiện đại Việt Nam. Ông để lại hàng chục tập thơ với trên dưới 1000 bài  thấm thía tình yêu cuộc sống nồng nàn. Một trong số những bài thơ tiêu biểu cho thơ Xuân Diệu là bài Vội vàng in trong tập Thơ thơ. Tập thơ được sáng tác trong những năm mười tám đôi mươi của của nhà thơ. Vội vàng là bài thơ thể hiện tình yêu nồng nàn của Xuân Diệu đối với cuộc sống tươi đẹp mà nhà thơ tự thấy phải gấp gáp nhận lấy.

II/ Thân bài :

1/

*/ Bài thơ  được mở đầu bằng bốn dòng thơ ngũ ngôn ngắn gọn, mạnh mẽ như lời tuyên bố về khát vọng của mình, về ước muốn của mình : Tôi muốn tắt nắng đi …đừng bay đi.

→Muốn tắt nắng đi, muốn buộc gió lại là nhà thơ muốn đoạt quyền của tạo hóa, muốn trái đất ngừng quay để lưu giữ mãi vẻ đẹp của đất trời.

→Một loạt các điệp ngữ « Tôi muốn », « đi », « cho » ; kết hợp với kết cấu lặp, Xuân Diệu không chỉ khiến cho cái tôi trữ tình của mình hiện lên đầy kiêu hãnh tự hào mà còn thể hiện dõng dạc tuyên ngôn sống táo bạo mãnh liệt của mình

*/ Sở dĩ có ước muốn táo bạo đó là bởi cái nhìn mới mẻ của nhà thơ với cuộc đời

–     Nếu cha ông ta cho rằng cuộc sống trần gian là bể khổ thì với cái nhìn trẻ trung tươi mới Xuân Diệu lại nhận thấy cuộc sống xung quanh mình là một thế giới tràn đầy hương sắc, một thiên đường trên mặt đất :

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật…gõ cửa”

→ Ở đây có ong bướm trong tuần tháng mật, khoảng thời gian ngọt ngào nhất, đẹp đẽ nhất;có hoa cỏ đồng nội với sắc màu tươi thắm nhất; có lá đang ở độ non tơ nhất và chim muông đang ca những khúc ca hạnh phúc nhất. Tất cả đang thấm đẫm một tình yêu say đắm ngọt ngào.. Thực ra thế giới tươi đẹp này, vườn xuân tươi đẹp này đâu phải bây giờ mới có.Nhà thơ không tạo ra thế giới mới nhưng có con mắt mới nhìn cuộc sống . Thoát khỏi hệ thống ước lệ phi ngã của văn chương cổ, cặp mắt non xanh của Xuân Diệu đã ngơ ngác và sung sướng trước một thiên đường phong phú và giàu có trên mặt đất, ngay trong tầm tay của mỗi người

→ Những câu thơ tám tiếng trải dài ra kết hợp nghệ thuật điệp cú pháp, đặc biệt một loạt điệp từ “này đây” đặt song song với nhau khiến lời thơ không chỉ là liệt kê, gợi mở  mà nó còn là sự mời chào những món ăn tinh thần sẵn có trong cái thiên đường phong phú và hấp dẫn ấy . Để rồi qua đó, nhà thơ muốn nói với chúng ta : Sao người ta cứ phái đi tìm bồng lai ở tận đâu đâu, cứ phải kiếm cõi niết bàn cực lạc ở mãi chốn mung lung hão huyền nào ? Nó ở ngay cuộc sống quanh ta đây, ngay trong giây phút hiện tại đây. Nó là cái hiện hữu, nhỡn tiền. Vậy còn chờ gì nữa, hãy yêu mến nó, hãy gắn bó và sống hết mình với cuộc sống thực tại này.Đây cũng là quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng có trong văn học trung đại.

_  Đối với ông, trong cõi trần gian, đẹp nhất là con người, đặc biệt là con người ở tuổi trẻ và tình yêu. Vì vậy, Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp, làm thước đo của cái đẹp:

“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

→Ánh sáng buổi sớm mai như được phát ra từ cặp mắt đẹp vô cùng của nàng công chúa có tên là Bình minh. Nàng vừa tỉnh giắc nồng suốt đêm qua. Nàng chớp chớp hàng mi rồi mở ra muôn ngàn tia sáng hào quang. Rõ ràng đây là hình ảnh so sánh mới mẻ độc đáo, lãng mạn giàu cảm xúc khác hẳn chuẩn mực thẩm mĩ của văn chương cổ

Đặc biệt là hình ảnh thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

→Tháng giêng là tháng mở đầu của mùa xuân, mùa xuân là mùa mở đầu cho một năm mới nên tháng giêng gợi vẻ thanh tân, mơn mởn, tràn trề sức sống. Tháng giêng là khái niệm chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ thể hóa bằng tính từ chỉ vị giác ngon và phép so sánh “như một cặp môi gần”, cặp môi chín mọng, đợi chờ của người thiếu nữ. Từ “gần” gợi lên sự ấm áp, cái đẹp như kề bên, mời mọc, quyến rũ. Từ “ngon” gợi sự tận hưởng cái đẹp đến tuyệt đối. Phép so sánh “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” không chỉ diễn tả một tháng giêng tươi đẹp mà còn cho ta thấy cái nhìn đê mê, đắm say của Xuân Diệu trước cuộc đời. Ai đó thấy cuộc đời là buồn đau, vô nghĩa, ai đó cầu xin được chết… với Xuân Diệu cuộc đời là niềm vui. Mỗi ngày mới là thần vui đến gõ cửa. Mỗi mùa xuân đến lại bắt đầu bằng tháng giêng với nụ hôn mời mọc. Chưa ai có cái nhìn về cuộc đời đắm say và hân hoan như Xuân Diệu : Thiên đường ngay trên mặt đất, trong tầm tay của mỗi người. Và trong thiên đường ấy Con người hồng hào mơn mởn giữa tuổi yêu đương là đẹp nhất là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ. Vẻ đẹp của con người trần thế là tác phẩm diệu kì nhất của tạo hóa toàn năng.Đó là ý nghĩa nhân bản mĩ học Xuân Diệu.

2/

*/ Đang ngây ngất tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời trong niềm vui hân hoan, phấn khởi thì cảm xúc của tác giả bất ngờ chuyển hướng

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

→ Dấu chấm giữa dòng ngắt câu thơ thành hai phần, mạch cảm xúc bị đứt đoạn diễn tả cảm giác ngỡ ngàng, sững sờ khi bất chợt nhà thơ nhận ra bước đi nghiệt ngã của thời gian: Tạo hóa sinh ra con người, nhưng nó ngắn ngủi, mong manh. Con người  không phải còn mãi để hưởng lạc thú ở chốn địa đàng trần gian này

*/ Nhưng với một con người khao khát sống như Xuân Diệu, ông không chịu khuất phục trước bước đi của thời gian: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Nhà thơ không hoài xuân khi tuổi xuân đã tàn, đã hết mà ông hoài xuân khi tuổi xuân đang mơn mởn, tràn đầy.

*/ Và trong sự hoài xuân ấy,

_ Nhà thơ suy tư về mối quan hệ giữa cái hữu hạn (cuộc sống của cá nhân ) với cái vô hạn( thời gian, đất trời )

Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua…lần thắm lại

→ Mùa xuân là danh từ chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ thể hóa, vật chất hóa bằng các cụm từ: đương tới – đương qua, còn non – sẽ già. Sự trôi chảy của thời gian được diễn tả qua điệp từ “xuân” và các từ ngữ đối lập. Xuân đi qua sẽ mang theo thời gian và tuổi trẻ, không có gì bền vững trước thời gian:

→ lời thơ là lời tự bộc bạch của tác giả về mối quan hệ giữa mùa xuân và thời gian trôi chảy, giữa tuổi trẻ và thời gian trôi qua, giữa tôi và đất trời.

_Và trong sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ phát hiện ra mâu thuẫn giữa tôi và đất trời   “Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại – Còn đất trời nhưng chẳn còn tôi mãi”            

→Vũ trụ có thể còn vĩnh viễn, mùa xuân của đất trời có thể tuần hoàn, nhưng tuổi trẻ một đi không bao giờ trở lại, đời người không thể còn mãi với thời gian.

→Thực ra từ xa xưa, văn chương cổ đã từng than thở về sự ngắn ngủi của kiếp người. Người ta gọi là áng phù vân hoặc là bóng câu qua cửa sổ. Nhưng hồi ấy người ta vẫn ung dung bình tĩnh, vì cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng. Con người gắn làm một với vũ trụ, cho nên con người chết chưa hẳn là hư vô, vẫn có thể cùng cộng đồng và trời đất tuần hoàn. Nhưng niềm tin ấy đâu còn ở các thế hệ nhà thơ mới. Họ đã ý thức được cái tôi cá nhân, ý thức được sự thật đáng buồn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn đất trời nhưng chẳn còn tôi mãi

→ do sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân nên ông đã có những quan niệm mới mẻ về thời gian và kiếp người. Với ông, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, mất thời gian là mất tuyệt đối:

*/ Trong cái bao la của vũ trụ, cái vô hạn của thời gian, sự có mặt của con người quá ư là ngắn ngủi nên nhà thơ ngậm ngùi, xót xa:

“Còn trời đất nhưng … Nên bâng … độ phai tàn sắp sửa”

→Ý thức được sự hữu hạn của con người trong cái bất tận của thời gian nên mỗi ngày qua, nhà thơ lại bị giằng xé giữa niềm vui và nỗi đau: Vừa mới buổi sớm thần vui đến gõ cửa mà buổi chiều đã rớm vị chia phôi, khắp sông núi đã than thầm tiễn biệt. Nhà thơ như nghe trong mỗi cơn gió, tiếng chim là khúc biệt li. Mỗi ngày qua là quĩ đời ngắn lại. Yêu đời và tiếc đời là hai mạch cảm xúc của Xuân Diệu với cuộc đời.

3/

Nếu như lòng ham sống đã khiến thi sĩ lo âu trước bước đi của thời gian thì cũng chính lòng ham sống ấy đã khiến Xuân Diệu tìm ra một lối thoát. Lối thoát ấy nằm gọn trong hai chữ “vội vàng”.

Đoạn thơ cuối là khao khát sống vội vàng. Ám ảnh sống vội vàng đã thúc giục nhà thơ sống cao độ, mạnh mẽ ngay trong những giây phút của tuổi thanh xuân. Câu thơ cuối đoạn hai như một hiệu lệnh:        Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm

Giữa những câu thơ dài, câu thơ đầu đoạn ba lại là một câu thơ ngắn chỉ gồm ba chữ: “Ta muốn ôm” thắp ngay giữa bài thơ làm ta liên tưởng đến một vòng tay lớn như muốn quấn quýt, níu giữ cả đất trời. Cách xưng hô của Xuân Diệu cũng thay đổi từ “tôi” sang “ta”. Nhà thơ như muốn bứt ra khỏi giới hạn của cái tôi chật chội để trở thành cái ta rộng lớn sánh ngang cùng trời đất đầy kiêu hãnh, tự hào. Tiếp theo là những câu thơ dài với nhịp gấp gáp như giục giã những khát vọng cháy bỏng trong tâm hồn nhà thơ. Vẫn là ước muốn sống hòa nhập với cuộc đời, tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời nhưng ở đây đó không chỉ là ước muốn của cá nhân mà là của cả cộng đồng. Nếu như ở đoạn đầu bài thơ, điệp từ “này đây” như sự chào mời, vẫy gọi, khẳng định vẻ đẹp nơi trần gian là có thật thì ở đoạn cuối bài thơ, điệp từ “ta muốn” như sự hưởng ứng đầy hăm hở, nhiệt tình. Từ “ta muốn” lại kết hợp với những động từ chỉ trạng thái yêu đương trong quan hệ tăng tiến: ôm, riết, say, thâu, cắn diễn tả sự thụ hưởng ngày càng đê mê, say đắm. Trái tim nhà thơ như muốn mở căng ra để thu hết vào đó cả thiên nhiên, đất trời và như thế, ông trở thành một tình nhân cương tráng của cuộc đời. Với nhà thơ Xuân Diệu, cuộc đời không chỉ được định nghĩa bằng tốc độ mà còn định nghĩa bằng cường độ, một cường độ hừng hực chất Xuân Diệu. Trong cái nhìn xanh non, biếc rờn của nhà thơ, cuộc đời như một thiếu nữ trẻ trung với đôi môi, đôi má hồng xinh xắn mà nhà thơ không nén nổi lòng yêu:

Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi

Từ cắn được dùng hết sức táo bạo, mới mẻ diễn tả sự thụ hưởng đến tuyệt đối. Nhà thơ đã chiếm lĩnh được cái đẹp trong ngây ngất, đắm say.

III/ Kết luận

Ghi nhớ : SGK

Quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu qua bài Vội vàng

   I/ Mở bài :

Tác giả →Sự nghiệp →Vội vàng (hoàn cảnh ra đời → chủ đề →Quan niêm nhân sinh)

Xuân Diệu là nhà thơ lớn của văn học hiện đại Việt Nam. Ông để lại hàng chục tập thơ với trên dưới 1000 bài  thấm thía tình yêu cuộc sống nồng nàn. Một trong số những bài thơ tiêu biểu cho thơ Xuân Diệu là bài Vội vàng in trong tập Thơ thơ. Tập thơ được sáng tác trong những năm mười tám đôi mươi của của nhà thơ. Vội vàng là bài thơ thể hiện tình yêu nồng nàn của Xuân Diệu đối với cuộc sống tươi đẹp mà nhà thơ tự thấy phải gấp gáp nhận lấy.

II/ Thân bài :

1/

*/ Bài thơ  được mở đầu bằng bốn dòng thơ ngũ ngôn ngắn gọn, mạnh mẽ như lời tuyên bố về khát vọng của mình, về ước muốn của mình : Tôi muốn tắt nắng đi …đừng bay đi.

→Muốn tắt nắng đi, muốn buộc gió lại là nhà thơ muốn đoạt quyền của tạo hóa, muốn trái đất ngừng quay để lưu giữ mãi vẻ đẹp của đất trời.

→Một loạt các điệp ngữ « Tôi muốn », « đi », « cho » ; kết hợp với kết cấu lặp, Xuân Diệu không chỉ khiến cho cái tôi trữ tình của mình hiện lên đầy kiêu hãnh tự hào mà còn thể hiện dõng dạc tuyên ngôn sống táo bạo mãnh liệt của mình

*/ Sở dĩ có ước muốn táo bạo đó là bởi cái nhìn mới mẻ của nhà thơ với cuộc đời

-     Nếu cha ông ta cho rằng cuộc sống trần gian là bể khổ thì với cái nhìn trẻ trung tươi mới Xuân Diệu lại nhận thấy cuộc sống xung quanh mình là một thế giới tràn đầy hương sắc, một thiên đường trên mặt đất :

   “Của ong bướm này đây tuần tháng mật…gõ cửa”

→ Ở đây có ong bướm trong tuần tháng mật, khoảng thời gian ngọt ngào nhất, đẹp đẽ nhất;có hoa cỏ đồng nội với sắc màu tươi thắm nhất; có lá đang ở độ non tơ nhất và chim muông đang ca những khúc ca hạnh phúc nhất. Tất cả đang thấm đẫm một tình yêu say đắm ngọt ngào.. Thực ra thế giới tươi đẹp này, vườn xuân tươi đẹp này đâu phải bây giờ mới có.Nhà thơ không tạo ra thế giới mới nhưng có con mắt mới nhìn cuộc sống . Thoát khỏi hệ thống ước lệ phi ngã của văn chương cổ, cặp mắt non xanh của Xuân Diệu đã ngơ ngác và sung sướng trước một thiên đường phong phú và giàu có trên mặt đất, ngay trong tầm tay của mỗi người

→ Những câu thơ tám tiếng trải dài ra kết hợp nghệ thuật điệp cú pháp, đặc biệt một loạt điệp từ “này đây” đặt song song với nhau khiến lời thơ không chỉ là liệt kê, gợi mở  mà nó còn là sự mời chào những món ăn tinh thần sẵn có trong cái thiên đường phong phú và hấp dẫn ấy . Để rồi qua đó, nhà thơ muốn nói với chúng ta : Sao người ta cứ phái đi tìm bồng lai ở tận đâu đâu, cứ phải kiếm cõi niết bàn cực lạc ở mãi chốn mung lung hão huyền nào ? Nó ở ngay cuộc sống quanh ta đây, ngay trong giây phút hiện tại đây. Nó là cái hiện hữu, nhỡn tiền. Vậy còn chờ gì nữa, hãy yêu mến nó, hãy gắn bó và sống hết mình với cuộc sống thực tại này.Đây cũng là quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng có trong văn học trung đại.

_  Đối với ông, trong cõi trần gian, đẹp nhất là con người, đặc biệt là con người ở tuổi trẻ và tình yêu. Vì vậy, Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp, làm thước đo của cái đẹp:

   “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

→Ánh sáng buổi sớm mai như được phát ra từ cặp mắt đẹp vô cùng của nàng công chúa có tên là Bình minh. Nàng vừa tỉnh giắc nồng suốt đêm qua. Nàng chớp chớp hàng mi rồi mở ra muôn ngàn tia sáng hào quang. Rõ ràng đây là hình ảnh so sánh mới mẻ độc đáo, lãng mạn giàu cảm xúc khác hẳn chuẩn mực thẩm mĩ của văn chương cổ

Đặc biệt là hình ảnh thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

→Tháng giêng là tháng mở đầu của mùa xuân, mùa xuân là mùa mở đầu cho một năm mới nên tháng giêng gợi vẻ thanh tân, mơn mởn, tràn trề sức sống. Tháng giêng là khái niệm chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ thể hóa bằng tính từ chỉ vị giác ngon và phép so sánh “như một cặp môi gần”, cặp môi chín mọng, đợi chờ của người thiếu nữ. Từ “gần” gợi lên sự ấm áp, cái đẹp như kề bên, mời mọc, quyến rũ. Từ “ngon” gợi sự tận hưởng cái đẹp đến tuyệt đối. Phép so sánh “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” không chỉ diễn tả một tháng giêng tươi đẹp mà còn cho ta thấy cái nhìn đê mê, đắm say của Xuân Diệu trước cuộc đời. Ai đó thấy cuộc đời là buồn đau, vô nghĩa, ai đó cầu xin được chết… với Xuân Diệu cuộc đời là niềm vui. Mỗi ngày mới là thần vui đến gõ cửa. Mỗi mùa xuân đến lại bắt đầu bằng tháng giêng với nụ hôn mời mọc. Chưa ai có cái nhìn về cuộc đời đắm say và hân hoan như Xuân Diệu : Thiên đường ngay trên mặt đất, trong tầm tay của mỗi người. Và trong thiên đường ấy Con người hồng hào mơn mởn giữa tuổi yêu đương là đẹp nhất là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ. Vẻ đẹp của con người trần thế là tác phẩm diệu kì nhất của tạo hóa toàn năng.Đó là ý nghĩa nhân bản mĩ học Xuân Diệu.

2/

*/ Đang ngây ngất tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời trong niềm vui hân hoan, phấn khởi thì cảm xúc của tác giả bất ngờ chuyển hướng

       Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

→ Dấu chấm giữa dòng ngắt câu thơ thành hai phần, mạch cảm xúc bị đứt đoạn diễn tả cảm giác ngỡ ngàng, sững sờ khi bất chợt nhà thơ nhận ra bước đi nghiệt ngã của thời gian: Tạo hóa sinh ra con người, nhưng nó ngắn ngủi, mong manh. Con người  không phải còn mãi để hưởng lạc thú ở chốn địa đàng trần gian này

*/ Nhưng với một con người khao khát sống như Xuân Diệu, ông không chịu khuất phục trước bước đi của thời gian: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Nhà thơ không hoài xuân khi tuổi xuân đã tàn, đã hết mà ông hoài xuân khi tuổi xuân đang mơn mởn, tràn đầy.

*/ Và trong sự hoài xuân ấy,

_ Nhà thơ suy tư về mối quan hệ giữa cái hữu hạn (cuộc sống của cá nhân ) với cái vô hạn( thời gian, đất trời )

        Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua…lần thắm lại

→ Mùa xuân là danh từ chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ thể hóa, vật chất hóa bằng các cụm từ: đương tới – đương qua, còn non – sẽ già. Sự trôi chảy của thời gian được diễn tả qua điệp từ “xuân” và các từ ngữ đối lập. Xuân đi qua sẽ mang theo thời gian và tuổi trẻ, không có gì bền vững trước thời gian:

→ lời thơ là lời tự bộc bạch của tác giả về mối quan hệ giữa mùa xuân và thời gian trôi chảy, giữa tuổi trẻ và thời gian trôi qua, giữa tôi và đất trời.

_Và trong sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ phát hiện ra mâu thuẫn giữa tôi và đất trời   “Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại – Còn đất trời nhưng chẳn còn tôi mãi”            

→Vũ trụ có thể còn vĩnh viễn, mùa xuân của đất trời có thể tuần hoàn, nhưng tuổi trẻ một đi không bao giờ trở lại, đời người không thể còn mãi với thời gian.

→Thực ra từ xa xưa, văn chương cổ đã từng than thở về sự ngắn ngủi của kiếp người. Người ta gọi là áng phù vân hoặc là bóng câu qua cửa sổ. Nhưng hồi ấy người ta vẫn ung dung bình tĩnh, vì cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng. Con người gắn làm một với vũ trụ, cho nên con người chết chưa hẳn là hư vô, vẫn có thể cùng cộng đồng và trời đất tuần hoàn. Nhưng niềm tin ấy đâu còn ở các thế hệ nhà thơ mới. Họ đã ý thức được cái tôi cá nhân, ý thức được sự thật đáng buồn

      Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

      Còn đất trời nhưng chẳn còn tôi mãi  

 

→ do sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân nên ông đã có những quan niệm mới mẻ về thời gian và kiếp người. Với ông, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, mất thời gian là mất tuyệt đối:

*/ Trong cái bao la của vũ trụ, cái vô hạn của thời gian, sự có mặt của con người quá ư là ngắn ngủi nên nhà thơ ngậm ngùi, xót xa:

     “Còn trời đất nhưng … Nên bâng … độ phai tàn sắp sửa”

→Ý thức được sự hữu hạn của con người trong cái bất tận của thời gian nên mỗi ngày qua, nhà thơ lại bị giằng xé giữa niềm vui và nỗi đau: Vừa mới buổi sớm thần vui đến gõ cửa mà buổi chiều đã rớm vị chia phôi, khắp sông núi đã than thầm tiễn biệt. Nhà thơ như nghe trong mỗi cơn gió, tiếng chim là khúc biệt li. Mỗi ngày qua là quĩ đời ngắn lại. Yêu đời và tiếc đời là hai mạch cảm xúc của Xuân Diệu với cuộc đời.

3/

Nếu như lòng ham sống đã khiến thi sĩ lo âu trước bước đi của thời gian thì cũng chính lòng ham sống ấy đã khiến Xuân Diệu tìm ra một lối thoát. Lối thoát ấy nằm gọn trong hai chữ “vội vàng”.

Đoạn thơ cuối là khao khát sống vội vàng. Ám ảnh sống vội vàng đã thúc giục nhà thơ sống cao độ, mạnh mẽ ngay trong những giây phút của tuổi thanh xuân. Câu thơ cuối đoạn hai như một hiệu lệnh:        Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm

Giữa những câu thơ dài, câu thơ đầu đoạn ba lại là một câu thơ ngắn chỉ gồm ba chữ: “Ta muốn ôm” thắp ngay giữa bài thơ làm ta liên tưởng đến một vòng tay lớn như muốn quấn quýt, níu giữ cả đất trời. Cách xưng hô của Xuân Diệu cũng thay đổi từ “tôi” sang “ta”. Nhà thơ như muốn bứt ra khỏi giới hạn của cái tôi chật chội để trở thành cái ta rộng lớn sánh ngang cùng trời đất đầy kiêu hãnh, tự hào. Tiếp theo là những câu thơ dài với nhịp gấp gáp như giục giã những khát vọng cháy bỏng trong tâm hồn nhà thơ. Vẫn là ước muốn sống hòa nhập với cuộc đời, tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời nhưng ở đây đó không chỉ là ước muốn của cá nhân mà là của cả cộng đồng. Nếu như ở đoạn đầu bài thơ, điệp từ “này đây” như sự chào mời, vẫy gọi, khẳng định vẻ đẹp nơi trần gian là có thật thì ở đoạn cuối bài thơ, điệp từ “ta muốn” như sự hưởng ứng đầy hăm hở, nhiệt tình. Từ “ta muốn” lại kết hợp với những động từ chỉ trạng thái yêu đương trong quan hệ tăng tiến: ôm, riết, say, thâu, cắn diễn tả sự thụ hưởng ngày càng đê mê, say đắm. Trái tim nhà thơ như muốn mở căng ra để thu hết vào đó cả thiên nhiên, đất trời và như thế, ông trở thành một tình nhân cương tráng của cuộc đời. Với nhà thơ Xuân Diệu, cuộc đời không chỉ được định nghĩa bằng tốc độ mà còn định nghĩa bằng cường độ, một cường độ hừng hực chất Xuân Diệu. Trong cái nhìn xanh non, biếc rờn của nhà thơ, cuộc đời như một thiếu nữ trẻ trung với đôi môi, đôi má hồng xinh xắn mà nhà thơ không nén nổi lòng yêu:

Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi

Từ cắn được dùng hết sức táo bạo, mới mẻ diễn tả sự thụ hưởng đến tuyệt đối. Nhà thơ đã chiếm lĩnh được cái đẹp trong ngây ngất, đắm say.

III/ Kết luận

Ghi nhớ : SGK

 

 

 

 

Chúc mừng năm mới 2015

Chúc mừng năm mới 2015

tetdong8uuu