Chúc mừng sinh nhật em Long

Chúc em cùng đại gia đình luôn vui vẻ mạnh khỏe và hạnh phúc

sinh-nhật-chú-long

Ban công trước nhà

hoa DB image (22)image (31)image (32)

Ngày xem hoa nở, tối đón trăng về

DSC_0235ngày xem hoa nở tối đón trăng về

Mấy vần thơ con cóc, tâm sự cùng con

                                                      MẤY VẦN THƠ CON CÓC, TÂM SỰ CÙNG CON
Mẹ nuôi con khôn lớn
Khó nhọc biết bao nhiêu
Con miệt mài chăm chỉ
Mẹ vui sướng vô cùng

Nhưng con gái của mẹ
Đường đời không trải thảm
Cho con bước dễ dàng
Đời không là trang vở
Như ta hăng ước mơ
Cuộc đời là giông bão
Là cạm bẫy hiểm nguy
Cả ê chề thất bại

Nhưng cho dù như vậy
Con đừng rơi nước mắt
Hãy mỉm cười ngạo nghễ
Và dũng cảm tiến lên

13353_983675238343547_4910389309483975600_n11406901_983675135010224_4107305677775826725_n

Ôn tập phần nghị luận xã hội

ÔN TẬP PHẦN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

A/ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ

@/ MÔ HÌNH DÀN BÀI CHUNG

I/  Mở bài:

- Dẫn dắt vào đề (…)

- Giới thiệu về tư tưởng, đạo lí nêu ở đề bài (…)

- Trích dẫn ý kiến, nhận định (nếu có) (…)

II/ Thân bài:

1/  Giải thích nội dung của đề

Tùy theo yêu cầu đề bài mà có thể có những cách giải thích khác nhau:

Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

Giải thích mệnh đềhình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập.

2/ Nghị luận vấn đề :

a/ Bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình về vấn đề được đặt ra ( có thế phê phán, bác bỏ hoặc đồng tình, khẳng định )

b/ Lý giải vì sao mình lại có quan điểm, suy nghĩ như vậy ( Vì sao …?)

c/ Chứng minh cho quan điểm của mình ( như thế nào …)

3/ Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân

III/ Kết bài:

- Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài (…)

- Lời nhắn gửi đến mọi người (…)

@/ LUYỆN TẬP

 

Đề số 1:   

Anh (chị) hãy cho biết ý kiến của mình về câu ngạn ngữ: “Đừng sống theo điều ta ước muốn. Hãy sống theo điều ta có thể ”. (Bài viết khoảng 600 từ).

Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: con người cần chọn cách sống thực tế, phù hợp với khả năng của mình, để không rơi vào viễn vông.

- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội.

Lập dàn ý

I/ Mở bài:

Giới thiệu câu ngạn ngữ: “Đừng sống theo điều ta ước muốn. Hãy sống theo điều ta có thể ”.

II/  Thân bài:

1/ Giải thích:   

         – “ Điều ta ước muốn” là những khát vọng, ước mơ của con người.

         – “ Điều ta có thể” là những gì nằm trong khả năng của bản thân.

         -  Ý nghĩa của câu ngạn ngữ: Con người cần chọn cách sống thực tế, phù hợp với khả năng của mình, để không rơi vào viễn vông.

2/ Nghị luận vấn đề :

a/ Bày tỏ suy nghĩ của mình

- Khẳng định câu nói hoàn toàn đúng. Là bài học cho con người trong cách chọn cách sống:biết ước mơ nhưng cần thực tế, phù hợp với khả năng của mình, để không rơi vào viễn vông.

b/ Lý giải vì sao đúng

 - Câu nói nêu ra một quan niệm sống tích cực đem lại niềm vui, niềm tin cho con người.

+ Ước mơ có vai trò quan trọng trong đời sống con người.

         + Mơ ước, khát vọng tạo động lực cho con người phấn đấu vươn lên trong học tập và lao động.

         + Sống không có mơ ước, luôn vừa lòng với thực tại thì cuộc sống trở nên trì trệ.

 - Nếu “ước muốn” quá cao xa, không phù hợp với khả năng của bản thân thì việc làm không có kết quả. Từ đó, con người sẽ chán nản, mất niềm tin vào cuộc sống.

         -  Sống theo những điều làm được trong khả năng của mình thì công việc có kết quả. Vì vậy, con người sẽ có niềm tin, phát huy năng lực đóng góp cho xã hội.

c/ Chứng minh tính đúng đắn của vấn đề trên qua thực tế cuộc sống

3/ Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân: 

- Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức, hành động: Sống tích cục, phải có ước mơ cao đẹp và ước mơ phải phù hợp với năng lực của bản thân.

III/  Kết bài:

Đề số 2:   

Suy nghĩ của anh (chị) về quan điểm của Éuripides: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của số phận”.                           

Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Bàn về câu nói của Éuripides: đề cao vai trò, tầm quan trọng của gia đình đối với mỗi con người trong cuộc sống.

- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội.

Lập dàn ý

I/ Mở bài:

Giới thiệu câu của Éuripides: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của số phận”.                                   

II/ Thân bài:

 1/  Giải thích câu nói

- “Gia đình”: tổ ấm của mỗi con người, nơi mỗi con người được sinh ra, được nuôi dưỡng và lớn lên; “Chốn nương thân”: nơi che chở tin cậy, chỗ dựa vững chắc.

- “Tai ương của số phận”: những bất hạnh, rủi ro gặp phải trong cuộc đời; “Duy chỉ có …mới… : nhấn mạnh tính duy nhất.

à Câu nói khẳng định giá trị, tầm quan trọng của gia đình với mỗi người: là chỗ dựa, điểm tựa duy nhất để chống lại những bất hạnh, rủi ro gặp phải trên đường đời.

2/ Nghị luận vấn đề :

a/ Bày tỏ suy nghĩ của mình

- Câu nói có ý nghĩa sâu sắc, là lời nhắc nhở thấm thía về ý nghĩa, giá trị to lớn của gia đình đối với mỗi người.

b/ Lý giải vì sao đúng

Bởi vì:

         + Gia đình là cái nôi hạnh phúc của mỗi người. Nơi đó ta được nuôi dưỡng, chở che, bao bọc, được đón nhận tình yêu thương thiêng liêng vô bờ bến của những người thân, những người ruột thịt.

         + Truyền thống, lối sống và sự giáo dục của gia đình là môi trường hình thành nhân cách, phẩm chất cho mỗi con người – những hành trang cần thiết khi đối mặt với thử thách trên đường đời; Gia đình còn là nền tảng, là bệ phóng cho mỗi con người đến với những thành công sau này (điều kiện kinh tế, mối quan hệ xã hội… của gia đình …).

         + Gia đình còn là hậu phương, là chỗ dựa tinh thần vững chắc: nâng đỡ khi chúng ta vấp ngã, tiếp thêm sức mạnh khi chúng ta gặp khó khăn, trở ngại, an ủi, chia sẻ khi chúng ta đau buồn (d/c)

- Gia đình không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với cuộc đời mỗi người mà còn có vai trò quan trọng góp phần tạo nên sự phát triển của xã hội (gia đình là tế bào của xã hội)

c/ Chứng minh tính đúng đắn của vấn đề trên qua thực tế cuộc sống

3/ Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân: 

*/ Mở rộng : Ý kiến trên không chỉ nhắc nhở con người cần biết quý trọng gia đình, mà con phê phán những người không biết yêu quý, trân trọng giá trị của gia đình (sống thờ ơ, vô cảm, không quan tâm đến những người thân, chà đạp lên những giá trị truyền thống của gia đình…).

- Ý kiến của Éuripides đã tuyệt đối hóa vai trò của gia đình đối với mỗi người, song trong thực tế:

         + Ngoài gia đình, mỗi người còn có những điểm tựa khác để vượt qua những khó khăn, thử thách như: bạn bè, đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp…

         + Những người không có được điểm tựa gia đình vững chắc vẫn biết vươn lên, trưởng thành, trở thành người có ích.

*/ Liên hệ bản thân…

III/  Kết bài:

- Yêu quý, trân trọng gia đình, nhận thức được vai trò, ý nghĩa của gia đình đối với mỗi người và xã hội.

- Bằng những việc làm cụ thể góp phần xây dựng gia đình của mình hạnh phúc, bền vững, giàu mạnh; vận động những người xung quanh cùng chung tay xây dựng gia đình vì một xã hội tốt đẹp.

Đề số 3:   

“Có ba cách để tự làm giàu mình: mỉm cười, cho đi và tha thứ”

                    (Theo: Hạt giống tâm hồn – NXB Tổng hợp TP HCM, 2008)

                  Những suy ngẫm của anh /chị về quan niệm trên.

Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: tâm hồn con người sẽ trở nên trong sáng, giàu đẹp hơn nếu biết lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người.

- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội.

Lập dàn ý

I/ Mở bài:

Giới thiệu câu nói: “Có ba cách để tự làm giàu mình: mỉm cười, cho đi và tha thứ”.

II/ Thân bài:

 1/  Giải thích câu nói

_ Tự làm giàu mình: tự nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mình 

 _ Mỉm cười: biểu hiện của niềm vui, sự lạc quan, yêu đời

 _ Cho đi: là biết quan tâm, chia sẻ với mọi người

  _ Tha thứ: là sự bao dung, độ lượng với lỗi lầm của người khác

àÝ cả câu: Tâm hồn con người sẽ trở nên trong sáng, giàu đẹp hơn nếu biết lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người.

2/ Nghị luận vấn đề :

a/ Bày tỏ suy nghĩ của mìnhb :

-  Câu nói đúng. Sự giàu có về tâm hồn có ý nghĩa quyết định sự hoàn thiện nhân cách của mỗi người.

Câu nói có tác dụng gợi mở, nhắc nhở mọi người phải luôn chú ý hoàn thiện bản thân

b/ Lý giải vì sao đúng

- Lạc quan, yêu đời giúp con người có sức mạnh để vượt lên những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, có niềm tin về bản thân và hướng đến một khát vọng sống tốt đẹp (dẫn chứng, phân tích).

- Biết quan tâm, chia sẻ, con người đã chiến thắng sự vô cảm, ích kỷ để sống giàu trách nhiệm và yêu thương hơn (dẫn chứng, phân tích).

- Biết bao dung, độ lượng, con người sẽ trút bỏ đau khổ và thù hận để sống thanh thản hơn và mang lại niềm vui cho mọi người (dẫn chứng, phân tích).

- Ngoài sự lạc quan, sẻ chia, độ lượng con người còn có thể bồi đắp, và nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng những ứng xử tốt đẹp khác (dẫn chứng, phân tích).

c/ Chứng minh tính đúng đắn của vấn đề trên qua thực tế cuộc sống

3/ Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân: 

- Cần có ý thức gìn giữ và bồi đắp để đời sống tinh thần, tình cảm của bản thân không bị xói mòn và chai sạn bởi mặt trái của cuộc sống hiện đại

sự lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người….

- Để làm được điều đó, phải bắt đầu từ những thái độ sống tích cực, có ý nghĩa với mình và mọi người.

Liên hệ thực tế bản thân về ý thức tu dưỡng, hành động: Phải biết nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mình để tâm hồn trở nên trong sáng, giàu đẹp hơn bằng

III/ Kết bài:

Đề số 4:   

Suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sống sau đây của Ra-bin-đra-nát Ta-go:

“Cõi đời hôn lên hồn tôi nỗi đau thương

Và đòi hỏi tôi đáp lại bằng lời ca tiếng hát”.

 Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: bàn về thái độ sống, cách sống để đối mặt với “nỗi đau thương”.

           – Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội.

Lập dàn ý

I/ Mở bài:

Giới thiệu quan niệm sống của Ra-bin-đra-nát Ta-go:

“Cõi đời hôn lên hồn tôi nỗi đau thương

Và đòi hỏi tôi đáp lại bằng lời ca tiếng hát”.

II/ Thân bài:

1/ Giải thích câu nói

 - Cuộc đời không phải chỉ có hoa hồng, thảm nhung, ánh sáng nó còn có những vực sâu, bóng tối. Cho nên, trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối mặt với nỗi đau thương mà cõi đời đem đến cho tâm hồn, trái tim mình; đó có thể là sự thất vọng, nỗi buồn thương,… Cuộc sống mang đến cho ta rất nhiều áp lực: công việc, sự nghiệp, gia đình, mối quan hệ đồng nghiệp, họ hàng,… “đôi khi cuộc sống trở nên không chịu đựng nổi”.

         – Muốn sống có ý nghĩa, ta phải đáp lại những “nỗi đau thương” mà đời đem đến bằng “lời ca tiếng hát” tức là phải có thái độ sống lạc quan; yêu đời, sống bằng cả trái tim, tấm lòng.

à Trước những đau buồn, bất hạnh mà cuộc đời mang lại, ta cần sống lạc quan, yêu đời, sống chân thành và hết mình để sự sống thêm ý nghĩa, đẹp tươi.

2/ Nghị luận vấn đề :

a/ Bày tỏ thái độ, suy nghĩ của mình

Câu nói có tác dụng nhắc nhở  mọi người cần có thái độ sống, cách sống tích cực khi đối mặt với “nỗi đau thương”.

- Đây là một quan niệm sống tích cực, một thái độ sống khỏe khoắn, một cách sống đúng đắn đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc.

- Phê phán những người bi quan, yếu đuối, thiếu bản lĩnh đã nhanh chóng bị sóng gió cuộc đời quật ngã, không thể đứng dậy sau thất bại, đau khổ.

b/ Lí giải vì sao “cõi đời hôn lên hồn ta nỗi đau thương” mà ta phải “đáp lại bằng lời ca tiếng hát”?

- Nếu con người nhanh chóng gục ngã trước những nỗi đau thương thì con người sẽ không tồn tại được, không thể sống một cách có ý nghĩa; khi đó ta chỉ như một kẻ hèn nhát, yếu đuối, bị động, buông xuôi trên dòng đời và tất yếu bị huỷ diệt. (dẫn chứng chứng minh)  

- Khi ta đáp lại bằng “lời ca tiếng hát”, ta sẽ có đủ tự tin, ý chí, nghị lực để vượt qua sóng gió cuộc đời, bởi tinh thần lạc quan, tình yêu cuộc sống là những năng lượng tinh thần vô giá, có sức mạnh diệu kì giúp con người thoát khỏi những bế tắc, khủng hoảng trong cuộc sống. (dẫn chứng chứng minh)

c/ Chứng Minh vấn đề trên

 3/ Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân 

- Sống lạc quan song không nên huyễn hoặc, ảo tưởng.

_ Trước những nỗi đau, những thử thách của cuộc đời  phải biết rút ra những bài học cho bản thân

_ Liên hệ bản thân

III/ Kết bài: 

 

ĐỀ SỐ 5

Đừng quên

Cái Ác vỗ vai cái Thiện

Cả hai cùng cười đi về tương lai

(Đừng quên – Trần Nhật Minh)

Dựa vào ý những câu thơ trên, viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về mối quan hệ giữa cái thiện và cái ác

I/ Mở bài

II/ Thân bài

1/ Giải thích nội dung của đề

_  Thiện , Ác.

2/ Nghị luận vấn đề

a/ Bày tỏ suy nghĩ của bản thân

b/ Lý giải vì sao có suy nghĩ trên

_ Trong cuộc sống Thiện và Ác luôn tồn tại trong mỗi con người và ở xung quanh chúng ta. Chúng có mối quan hệ đối lập nhưng đôi khi lại thúc đẩy nhau phát triển. Đó là quy luật cuộc sống.

_ Cần có cái nhìn tỉnh táo để phát hiện ra Thiện và Ác từ đó mà có hành động thiết thực để đẩy lui cái Ác, phát huy cái Thiện trong xã hội cũng như ở chính mình

c/ Chứng Minh vấn đề

3/ Mở rộng vấn đê, liên hệ bản thân

_ Xã hội ngày càng phức tạp , cái Ác ngày càng tinh vi thậm chí nó còn được ngụy trang bằng cái thiện

_ Vì thế cuộc đấu trnh giữa Thiện và Ác ngày càng gay gắt và quyết liệt

Đòi hỏi cuộc đấu tranh bản thân

_ Liên hệ bản thân

III/ Kết kuận

ĐỀ SỐ 6

Nhà văn Nguyễn Khải cho rằng: Để sống được hàng ngày tất nhiên phải nhờ vào những “giá trị tức thời”. Nhưng sống cho có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những “giá trị bền vững”.

Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.

I/ Mở bài

II/ Thân bài

1/ Giải thích nội dung của đề

_ Giá trị tức thời: là những giá trị vật chất và tinh thần chưa trải qua thử thách, sàng lọc của thời gian, có ý nghĩa trong thời điểm hiện tại, thoả mãn những nhu cầu cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Đây là những giá trị rất cần thiết vì thiếu nó con người không thể tồn tại.

_ Giá trị bền vững: Chỉ những giá trị tinh thần đã trải qua thử thách, sàng lọc của thời gian, có ý nghĩa lâu bền, trở thành nền tảng văn hoá, đạo lí của dân tộc và nhân loại như: tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, tình cảm tri ân, sự ngay thẳng trong sạch, thẩm mỹ tinh tế… Đây là những giá trị quan trọng giúp con người sống có phẩm hạnh, cốt cách.

_ Mối quan hệ giữa hai giá trị: Vừa đối lập vừa thống nhất. Con người cần có những giá trị tức thời để duy trì cuộc sống, cũng rất cần những giá trị bền vững để sống có ý nghĩa.

2/ Nghị luận vấn đề

a/ Bày tỏ suy nghĩ của bản thân

b/ Lý giải vì sao có suy nghĩ trên

_ Muốn tồn tại con người cần phải tạo ra và nhờ vào những giá trị tức thời. Tuy nhiên nếu quá coi trọng những giá trị đó, con người sẽ bị chi phối bởi lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chỉ nhìn thấy những lợi ích trước mắt.

_ Để cuộc sống thật sự có ý nghĩa, con người nhất định phải vươn tới những giá trị tinh thần tốt đẹp. Tuy nhiên, cốt cách, phẩm giá con người không thể có tức thời trong ngày một ngày hai, mà đó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, bồi đắp lâu dài về tâm hồn, trí tuệ, hành động. Đó cũng là cách để con người có một cuộc sống bền vững, không chỉ giới hạn trong thời gian đời người mà còn trong sự ghi nhận lâu dài của cộng đồng.

c/ Chứng Minh vấn đề

3/ Mở rộng vấn đê, liên hệ bản thân

-         Những giá trị tức thời, nếu có ý nghĩa tích cực, được xã hội đón nhận, gìn giữ, lưu truyền sẽ trở thành những giá trị bền vững. Trong khi đó, có những giá trị đã được hình thành từ lâu, qua thực tiễn không còn phù hợp, trở nên lạc hậu, lỗi thời sẽ bị đào thải

-          Nhận thức được vai trò, ý nghĩa của mỗi giá trị. Hình thành kĩ năng sống, biết tiếp nhận hợp lí trước các giá trị của cuộc sống. Phải có bản lĩnh để sống có phẩm giá, cốt cách dựa theo nền tảng những giá trị bền vững về văn hóa, đạo lí của dân tộc và nhân loại.

III/ Kết kuận

ĐỀ SỐ 6

Có ý kiến cho rằng:

Phải biết nói lời xin lỗi.

Anh/chị có đồng tình với ý kiến trên không? Trình bày chủ kiến của anh/chị qua một bài văn ngắn (khoảng 600 từ).

I/ Mở bài:

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận. II/ Thân bài

1/ Giải thích ý kiến nội dung của đề

_ Lời xin lỗi là lời xin được nhận lỗi về phần mình khi cảm thấy mình có lời nói hoặc hành vi chưa tốt, chưa đúng

2/ Nghị luận vấn đề

a/ Bày tỏ suy nghĩ của mìnhn :

Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn

b/ Lý giải vì sao

_ Không ai là toàn vẹn, hoàn hảo. Ai cũng từng một lần mắc lỗi.

_ Nhưng điều quan trọng hơn cả là mình có nhận ra lỗi của mình, có biết nói lời xin lỗi đối với người mình đã phạm lỗi hay không.

_ Biết nói lời xin lỗi là biết tự trọng, biết phục thiện và biết tôn trọng người khác. Và ngược lại

_ Lời xin lỗi chân thành và đúng lúc không làm hạ thấp mà có khi làm tăng phẩm giá của người dám nhận lỗi, xin lỗi (không chỉ cá nhân mà một quốc gia khi làm thương tổn hoặc xâm phạm đến chủ quyền và danh dự quốc gia khác thì cũng phải biết nói lời xin lỗi trước công luận).

c/ Chứng Minh vấn đề

3/ Mở rộng vấn đề liên hệ bản thân

_ Biết nói lời xin lỗi không chỉ là nhận thức mà còn là hành vi mang tính đạo đức thể hiện vẻ đẹp của con người sống có văn hóa.

_ Lời xin lỗi thật đáng quý nhưng đáng quý hơn vẫn là những hành động khắc phục lỗi lầm mình đã gây ra.

_ Thái độ biết nói lời xin lỗi không phải là hành vi của kẻ yếu mà rất nhiều khi nó thể hiện tư cách của kẻ mạnh – kẻ dám vượt lên thói sĩ diện hảo, kẻ dám nhận ra lỗi lầm, kẻ có quyết tâm sửa chữa lỗi lầm.

_ Liên hệ bản thân…

III/ Kết luận :

B/  NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG TRONG ĐỜI SỐNG XH

@/ MÔ HÌNH DÀN BÀI CHUNG

I/  Mở bài:

- Dẫn dắt vào đề (…)

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (…)

II/ Thân bài:

1/  Giải thích nội dung của đề

( Nếu đề có chứa từ khó khái niệm khó

2/ Nghị luận vấn đề :

a/ Nêu hiên tượng

b/ Chỉ ra nguyên nhân ( khách quan, chủ quan )

c/ Phân tích tác động ( ảnh hưởng tốt (hay xấu) lên mọi mặt của xã hội )

d/ Đề ra giải pháp

3/ Liên hệ bản thân

III/ Kết bài:

- Nhấn mạnh tác động của hiện tượng trên (…)

- Lời nhắn gửi đến mọi người (…)

                            @/ LUYỆN TẬP

ĐỀ SỐ 1

Viết bài văn ngắn khoảng 600 từ trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng sau:

“Mới đây, dư luận lại xôn xao về một cô thiếu nữ có “khuôn mặt ưa nhìn” đã phô ra trên Facebook cả một loạt ảnh ngồi ghếch chân trên bia mộ liệt sĩ…”

                          (Theo Nỗi sợ hãi không muốn “học làm người” – Mục Góc nhìn của nhà thơ Trần Đăng Khoa-Tuổi trẻ và đời sống, số 152 ngày 14/1/2013)

Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Bàn về hiện tượng một thiếu nữ…cho cả thế giới “chiêm ngưỡng” -> Hiện tượng thể hiện hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc,…

- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội.

Lập dàn ý

I/ MỞ BÀI :

Giới thiệu hiện tượng cần bàn.

II/ THÂN BÀI:

1/ Giải thích nội dung của đề

_ Tóm lước phần tích dẫn của đề

_ Rút ra bản chất của hiện tượng : – Hiện tượng thể hiện hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc,…

a/ Nêu hiện tượng :

Hiện nay tình trạng một bộ phận thanh, thiếu niên có suy nghĩ và hành động lệch lạc, có hành vi phản cảm, thiếu văn hóa, đi ngược lại truyền thống đạo lí… không ít (dẫn chứng cụ thể từ đời sống, lấy thông tin trên các phương tiện truyền thông).

b/ Phân tích nguyên nhân

+ Khách quan: thiếu vắng mối quan tâm, sự giáo dục của gia đình và nhà trường. Những ảnh hưởng của phim ảnh, intrernet, sự tràn lan của lối sống cá nhân thích làm nổi, thích gây sốc để nhiều người biết đến,…

+ Chủ quan: Nhiều thanh thiếu niên tuy được sinh ra và lớn lên ở môi trường giáo dục tốt nhưng lại có suy nghĩ và hành động lệch lạc, bởi họ không có ý thức hoàn thiện mình cũng như tự bồi đắp tâm hồn mình bằng những cách cư xử có văn hóa

c/ Phân tích tác động :

+ Gây xôn xao, bất bình trong dư luận, làm tổn thương, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo lí tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”…, tác động không tốt đến giới trẻ

+ Bản thân người trong cuộc phải gánh chịu những lên án, bất bình của dư luận xã hội

d/ Đề ra giải pháp

+ Nâng cao nhận thức ở giới trẻ: nhà trường và đoàn thanh niên cần thường xuyên tổ chức các diễn đàn để tuyên truyền, giáo dục thanh niên về lối sống đẹp và giữ gìn truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”.

+ Những hình ảnh phản cảm trên cần được dư luận phê phán quyết liệt, gia đình và nhà trường phải nghiêm khác, nhắc nhở,…

(Lưu ý cần đưa dẫn chứng thực tế để chứng minh)

3/ Liên hệ bản thân

III/ KẾT LUẬN

- Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trau dồi nhân cách, bồi đắp nững giá trị đạo đức, văn hóa, đặc biệt là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”.

- Kiên quyết lên án và ngăn chặn những biểu hiện của lối sống vô cảm, thiếu văn hóa để xã hội lành mạnh, tiến bộ hơn….

 

ĐỀ SỐ 2

“Trong thế gian này chúng ta xót xa không chỉ vì lời nói và hành động của những kẻ xấu mà còn là sự im lặng đáng sợ của những người tốt”                   

                                                                                                (M.L.King)

Anh/ chị hãy viết bài văn ngắn khoảng 600 từ bày tỏ suy nghĩ của mình về  ý kiến trên.

         Phân tích đề

- Yêu cầu về nội dung: Bàn về sự đau đớn, thất vọng do lời nói và hành động của kẻ xấu không lớn bằng việc những người tốt không có bất cứ phản ứng gì trước những việc làm của kẻ xấu-bệnh cô cảm.

- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.

- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội.

Lập dàn ý

I/ MỞ BÀI :

Giới thiệu hiện tượng cần bàn.

II/ THÂN BÀI:

1/ Giải thích nội dung của đề

- Cuộc sống là tổng hòa các mối quan hệ xã hội nên luôn luôn tồn tại hai loại người: xấu và tốt. Vì thế, ta thấy đau lòng vì hàng ngày, hàng giờ vẫn có những nhiều đáng tiếc xảy ra, chà đạp lên các giá trị đạo đức

- Sự im lặng của người tốt là sự im lặng đáng sợ vì đó là phản ứng bất bình thường của những người mà từ trước đến nay ta trân trọng à bệnh vô cảm

à Đây là lời cảnh báo nghiêm khắc về sự băng hoại các giá trị đạo đức trong xã hội hiện nay. Ý kiến này khẳng định: sự đau đớn, thất vọng do lời nói và hành động của kẻ xấu không lớn bằng việc những người tốt không có bất cứ phản ứng gì trước những việc làm của kẻ xấu.

a/ Nêu hiện tượng :

hiện tượng khá phổ biến trong xã hội

+ lời nói, hành động của những kẻ xấu (d/c)

+ sự im lặng đáng sợ của những người tốt – bệnh thờ ơ, vô cảm (dẫn chứng)

b/ Phân tích nguyên nhân

+ Những kẻ xấu, những kẻ kém đạo đức. Chúng làm nhiều việc trái với chuẩn mực đạo đức xã hội chỉ mong vụ lợi cho bản thân, không nghĩ đến người khác, không quan tâm tới tập thể ( d/c)

+ Trước những bất công, vô lí, điều xấu xa đang xảy ra, trước nỗi đau của người khác… người vô cảm không có phản ứng gì bởi vì họ đã không dám lên tiếng, không dám đấu tranh để cho cuộc sống này tốt đẹp hơn.

         Tại sao họ im lặng? Vì họ thấy bất lực. Họ thấy cô độc. Họ mất niềm tin…

 

c/ Phân tích tác động :

- Lời nói, hành dộng của kẻ xấu, sự thờ ơ vô cảm làm cho xã hội trở nên bất ổn, con người mất hết niềm tin vào những điều tốt đẹp (d/c

d/ Đề ra giải pháp

+ Nâng cao nhận thức ở giới trẻ: nhà trường và đoàn thanh niên …cần thường xuyên tổ chức các diễn đàn để tuyên truyền, giáo dục thanh niên về lối sống đẹp

+ Cần phê phán quyết liệt và nghiêm khắc nhắc nhở những cá nhân có hành vi xấu, vô cảm

3/ Liên hệ bản thân

- Phải nhận thức rõ nhưng việc làm tốt – xấu xunh quanh cuộc sống của mình. Không làm ngơ trước cái xấu, cái ác, không có thái độ sống thờ ơ, vô cảm

- Ủng hộ việc làm của những người tốt, có ý thức bảo vệ người khác để xã hội ngày một tốt đẹp hơn.

III/ KẾT LUẬN

ĐỀ SỐ 3

Viết một bài văn ngắn (không quá 600 từ) trình bày ý kiến của anh/chị về nạn bạo hành trong xã hội.

Dàn ý:

I/ MỞ BÀI

Giới thiệu về vấn nạn bạo hành trong xã hội

II/ THÂN BÀI

1/ Giải thích nội dung của đề

+ Nạn bạo hành: sự hành hạ, xúc phạm người khác một cách thô bạo, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người khác, đang trở thành phổ biến hiện nay.

+ Nạn bạo hành: thể hiện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện của đời sống xã hội. Nạn bạo hành diễn ra trong: gia đình, trường học, công sở…

2/ Nghị luận vấn đề

a/ Nêu thực trạng :

       + Hiện tượng khá phổ biến trong xã hội (d/c)

b/ Nguyên nhân

+ Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người.

+ Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực (nhất là đối với tầng lớp thanh thiếu niên).

+ Do áp lực cuộc sống.

+ Do sự thiếu kiên quyết trong cách xử lí nạn bạo hành.

c/ Tác động của hiện tượng.

+ Làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của con người

+ Làm ảnh hưởng đến tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là tuổi trẻ

d/ Đề xuất giải pháp.

+ Cần lên án đối với nạn bạo hành.

+  Cần xử lí nghiêm khắc hơn với những người trực tiếp thực hiện hành vi bạo hành.

+ Cần quan tâm, giúp đỡ kịp thời đối với nạn nhân của bạo hành.

3/ Liên hệ bản thân

- Lên án hiện tượng

- Bài học nhận thức và hành động của bản thân

III/ KẾT LUẬN

C/  NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐẶT RA TỪ VĂN BẢN

@/ MÔ HÌNH DÀN BÀI CHUNG

I/  Mở bài:

- Dẫn dắt vào đề (…)

- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (…)

II/ Thân bài:

1/  Tóm lược văn bản, rút ra vấn đề đặt ra trong văn bản

2/ Nghị luận vấn đề :

Nếu vấn đề đặt ra trong tác phẩm là một hiện tương đời sống thì làm theo mô hình bài nghị luận về một hiện tương trong đời sống. Nếu vấn đề đặt ra trong tác phẩm là một tư tưởng đạo lý thì làm theo mô hình bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý

III/ Kết bài:

- Nhấn mạnh vấn đề  nghị luận(…)

                            @/ LUYỆN TẬP

ĐỀ SỐ 1

NGƯỜI ĂN XIN

Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:

- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:

- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.

Khi ấy, tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được cái gì đó của ông .

(Tuốc-ghê-nhép, dẫn theo Ngữ văn 9, tập Một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005, trang 22).

Suy nghĩ của anh (chị) khi đọc xong câu chuyện trên.

* Yêu cầu kỹ năng:

Biết cách làm bài nghị luận xã hội. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

* Yêu cầu về kiến thức:

 Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần thể hiện những suy nghĩ chân thành làm nổi bật trọng tâm vấn đề.

Tìm hiểu đề

- Yêu cầu nội dung: Từ câu chuyện đặt ra vấn đề:

+ Vấn đề “cho” và “nhận” trong cuộc sống.

+ Cách ứng xử cao đẹp, giàu lòng nhân ái của con người trong cuộc sống.

- Yêu cầu thao tác lập luận: Giải thích, bình luận, chứng minh…

- Phạm vi tư liệu: Thực tế xã hội.

Lập dàn ý

I/ MỞ BÀI

- Giới thiệu vấn đề nghị luận.

- Giới thiệu câu chuyện “Người ăn xin”

2/ THÂN BÀI

1/ Tóm lược nội dung văn bản, rút ra vấn đề được đặt ra:

_

_ Từ hành động cho và nhận của anh thanh niên và người ăn xin, truyện đã ngợi ca cách ứng xử cao đẹp, nhân ái giữa con người với con người trong cuộc sống.

- Thái độ sống, cách ứng xử của con người với con người:

2/ Bàn luận về ý nghĩa của câu chuyện:

a/ Bày tỏ suy nghĩ của mình:

Câu chuyện không chỉ gợi cho ta nhiều suy ngẫm về việc cho và nhận trong cuộc sống, mà “Người ăn xin” còn là lời khuyên về cách sống, thái độ sống của mỗi con người trong cuộc đời:

b/ Lý giải vì sao

Cái cho và nhận đâu phải chỉ là vật chất, mà nó còn là giá trị tinh thần, có khi chỉ là một câu nói, một cử chỉ hành động hoặc việc làm, một lời động viên chân thành nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao… nhưng quan trọng nhất chính là thái độ khi cho và nhận cần phải chân thành, có văn hoá.

+ Sự đồng cảm, tình yêu thương chân thành và cách ứng xử lịch sự là món quà quý giá mà ta tặng cho người khác.

+ Và khi trao món quà tinh thần ấy cho người khác thì ta cũng nhận được món quà quí giá như vậy.

+ Con người biết yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau ( biết tương thân, tương ái, biết sống vì người khác, có trách nhiệm…làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, con người trở nên mạnh mẽ hơn

 

c/ Chứng minh qua thực tê cuộc sống

3/ Mở rộng vấn đề, liên hệ bản thân.

+ Câu chuyện là bài học về kĩ năng sống, hàng trang cho mỗi người về cách “cho” và “nhận” (đặc biệt là thế hệ trẻ – qua cách ứng xử của anh thanh niên trong câu chuyện

 + Bên cạnh đó có một bộ phận cá nhân trong xã hội còn thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, sống hưởng thụ hoặc có thái độ khinh miệt đối với những con người nghèo khổ trong xã hội à cần lên án loại bỏ những hành động và suy nghĩ đó.

- Liên hệ bản thân: Xác định thái độ sống và cách ứng xử của bản thân: tôn trọng, quan tâm, chia sẻ với mọi người…

III/ KÊT BÀI:

- Đánh giá nội dung câu chuyện: có ý nghĩa sâu sắc, như một thông điệp về cách ứng xử của con người trong cuộc sống.

 

ĐỀ SỐ 3

Đọc mẩu chuyện sau:

 “Có một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần. Đang bò, kiến gặp phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó dừng lại giây lát, đặt chiếc lá ngang qua vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia con kiến lại tiếp tục tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình”.

                        (Theo Hạt giống tâm hồn 5 – Ý nghĩa cuộc sống)

Bằng một bài văn ngắn, hãy trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa mẩu chuyện trên.

Gợi ý trả lời ;

A/ Mở bài : Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

B/ Thân bài :

1/ Tìm hiểu ý nghĩa câu chuyện: (0,5 điểm)

-                   Chiếc lá và vết nứt: Biểu tượng cho những khó khăn, vất vả, trở ngại, những biến cố có thể xảy ra đến với con người bất kì lúc nào.

-                   Con kiến dừng lại trong chốc lát để suy nghĩ và nó quyết định đặt ngang chiếc lá qua vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá…: biểu tượng cho con người biết chấp nhận thử thách, biết kiên trì, sáng tạo, dũng cảm vượt qua bằng chính khả năng của mình.

à Câu chuyện ngắn gọn nhưng hàm chứa bao ý nghĩa lớn lao về cuộc sống. Con người cần phải có ý chí, nghị lực, thông minh, sáng tạo và bản lĩnh mạnh dạn đối mặt với khó khăn gian khổ, học cách sống đối đầu và dũng cảm; học cách vươn lên bằng nghị lực và niềm tin.

2/  Suy nghĩ về ý nghĩa câu chuyện: (1.0 điểm)

- Khẳng định câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc đối với mỗi người trong cuộc đời.

+ Những khó khăn, trở ngại vẫn thường xảy ra trong cuộc sống, luôn vượt khỏi toan tính và dự định của con người. Vì vậy mỗi người cần phải dũng cảm đối mặt, chấp nhận thử thách để đứng vững, phải hình thành cho mình nghị lực, niềm tin, sự kiên trì, sáng tạo để vượt qua.

+ Khi đứng trước thử thách cuộc đời cần bình tĩnh, linh hoạt, nhậy bén tìm ra hướng giải quyết tốt nhất.

+ Khó khăn, gian khổ cũng là điều kiện thử thách và tôi luyện ý chí, là cơ hội để mỗi người khẳng định mình. Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành hơn, sống có ý nghĩa hơn.

(làm sáng tỏ bằng những dẫn chứng tiêu biểu cụ thể, xác đáng như: Anh Nguyễn Ngọc Kí, danh họa Lê-ô-na Đơ-vanh-xi, những anh thương binh tàn nhưng không phế, nhân dân Việt Nam chống kẻ thù xâm lược… ).

-                   Không phải bất cứ ai cũng có thái độ tích cực để vượt qua sóng gió cuộc đời. Có người nhanh chóng bi quan, chán nản; có người than vãn, buông xuôi; có người ỷ lại, hèn nhát, chấp nhận, đầu hàng, đổ lỗi cho số phận…. cho dù những khó khăn ấy chưa phải là tất cả (Dẫn chứng) à Ta cần phê phán những người có lối sống đó.

3/ Khẳng định vấn đề và rút ra bài học cuộc sống: (0,25 điểm)

-                   Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, cũng thuận buồm xuôi gió. Khó khăn, thử thách, sóng gió có thể nổi lên bất cứ lúc nào. Đó là qui tất yếu của cuộc sống mà con người phải đối mặt.

-                   Phải có ý thức sống và phấn đấu, không được đàu hàng, không được gục ngã mà can đảm đối đầu, khắc phục nó để tạo nên thành quả cho cuộc đời.

4/ Liên hệ bản thân: (0,25 điểm)

-                   Cần phải rèn luyện ý chí, nghị lực, lạc quan, hi vọng và có niềm tin vào cuộc sống. Cần nhất là thái độ sống của mình trước mọi thử thách của cuộc đời.

C/ Kết luận

 

ĐỀ SỐ 4

Diễn giả nổi tiếng Nick Vujicic – chàng trai khuyết tật kỳ diệu nhất thế giới đã từng nói:“Nếu tôi thất bại tôi sẽ thử làm lại, làm lại và làm lại nữa. Nếu bạn thất bại, bạn sẽ cố làm lại chứ ? Tinh thần con người có thể chịu đựng được những điều tệ hơn là chúng ta tưởng. Điều quan trọng là cách bạn đến đích. Bạn sẽ cán đích một cách mạnh mẽ chứ ?”

Anh (chị) sẽ đối thoại với Nick như thế nào? Hãy trình bày quan điểm của mình bằng một bài văn nghị luận khoảng 600 từ.

A/ Mở bài : Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

B/ Thân bài :

1/ Giải thích

+ Thất bại là khi bản thân mỗi người không làm được điều mình mong muốn, không đạt được mục đích mình đề ra…

+ Ý kiến của Nick muốn đề cập đến sức mạnh của ý chí và nghị lực con người. Thất bại là điều không thể tránh khỏi, nhưng sau mỗi lần thất bại con người cần có nghị lực, ý chí, niềm tin và lòng lạc quan tích cực, không lùi bước trước khó khăn, biết vượt lên chính mình.

2/Bàn luận

+ Trong cuộc sống, mỗi người đều có ước muốn, mục đích để vươn tới. Trên con đường vươn tới mục đích, bạn có thể bị thất bại do nhiều nguyên nhân…

+ Điều quan trọng là đứng trước thất bại chúng ta không bỏ cuộc, dũng cảm đương đầu với thử thách, biết đứng dậy làm lại từ đầu thì sẽ có động lực, niềm tin…

+ Câu nói của Nick đã đánh thức dậy lòng dũng cảm, sự tự tin trong mỗi chúng ta để mạnh dạn đối mặt với những thử thách của cuộc đời. Sức mạnh tinh thần lớn lao có thể giúp con người vượt qua được những giới hạn của cuộc sống như một kỳ tích. “Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường”.

3/ Bài học nhận thức và hành động:

+ Câu nói bao hàm một quan niệm sống tích cực và là lời khuyên đúng đắn: Hãy làm lại sau mỗi lần thất bại, không bỏ cuộc, hãy dũng cảm, lạc quan, nỗ lực vươn lên, không đầu hàng số phận… Bản lĩnh thép sẽ dẫn bước thành công.

+ Trả lời Nick: Bạn sẽ làm lại nếu bạn thất bại? Bạn sẽ cán đích một cách mạnh mẽ?

C/ Kết luận

 

 

 

Luyện tập phần đọc hiểu văn bản

  ÔN TẬP PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

BÀI TẬP 1 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

” Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm đà là Thế Lữ. (…)

Nhưng đến năm 1936, ảnh hưởng Pháp lại thấm thía thêm một tầng nữa.Trong thơ Thế Lữ ta chỉ thấy ẩn hiện đôi nhà thơ Pháp về thời lãng mạn.Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ mới một cách rõ rệt.Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa .Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xưa ai nấy về hạ giới.Với một nghệ thuật tinh vi đã học được của Bô-đơ-le, Xuân Diệu diễn tả lòng ham sống bồng bột trong thơ ĐơNô-ai và trong văn Gi-nơ.(…)

ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm. Qua năm 1938, Huy Cận ra đời, nó đã bắt đầu xuống, mặc dầu Huy Cận cũng chịu ảnh hưởng thơ Pháp gần đây, nhất là ảnh hưởng Véc-len.(…)

Trái hẳn với lối thơ tả chân Hàn Mặc Tử- Chế Lan Viên .Cả hai đều chịu ảnh hưởng Bô-đơ-le và qua Bơ-đơ-le, ảnh hưởng nhà văn Mĩ ét-gaPô, tác giả tập ” Chuyện lạ”.Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Bô-đơle, ét-gaPô đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường tới Bô-đơ-le, ét-gaPô và đi thêm một đoạn nữa gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa.(…)

Viết xong đoạn trên này đọc lại tôi thấy khó chịu. Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp. ấy chỉ vì tôi tìm ảnh hưởng để chia xu hướng .Sự thực đâu có thế.Tiếng Việt, tiếng Pháp khác nhau xa. Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hoá hoàn toàn .Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến ĐơNô-ai … Thi văn Pháp không mất bản sắc Việt Nam .Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải”

(Theo Hoài Thanh-Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam)

1/  Đoạn trích viết theo phong cách nào ? Phương thức biểu đạt  nào ?

2/ Tác giả viết về vấn đề gì? Quan điểm của các tác giả đối với vấn đề đó như thế nào?

3 Tác giả đã sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu? Ngoài ra trong đoạn trích còn có thao tác lập luận nào khác nữa không? Tác dụng?

BÀI TẬP 2 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

« …. Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. »

1/  Đoạn trích viết theo phong cách nào ? Phương thức biểu đạt  nào ?

2/ Xác định ý chính của đoạn văn?

3/ Chỉ ra và phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn?

BÀI TẬP 3 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Trên những trang vở học sinh

Trên bàn học trên cây xanh

Trên đất cát và trên tuyết

Tôi viết tên em

…Trên sức khỏe được phục hồi

Trên hiểm nguy đã tan biến

Trên hi vọng chẳng vấn vương

Tôi viết tên em

Và bằng phép màu một tiếng

Tôi bắt đầu lại cuộc đời

Tôi sinh ra để biết em

Để gọi tên em

TỰ DO

(Tự do – Pôn Ê-luy-a – SGK Ngữ văn 12, cơ bản, tập 1,tr. 120)

1/. Cho biết đoạn thơ trên thuộc thể thơ nào? (0,25 điểm)

2/. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên (0,5 điểm)

3/ Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên (0,25 điểm)

4/ Anh/chị hãy giải thích ngắn gọn mục đích của tác giả khi viết từ TỰ DO ở cuối bài thơ bằng chữ in hoa? (0,5 điểm)

BÀI TẬP 4 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

“Tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái

“(1) Hôm rồi tôi có dịp ghé nhà một ông tá hải quân cùng quê chơi. Ông hiện phụ trách quân lực của cả một vùng. Ông vừa cất xong ngôi nhà (biệt thự thì đúng hơn) và sắm xe hơi mới. Bước vào phòng khách ngôi nhà, ập vào mắt tôi chính là chiếc tủ rượu hoành tráng được gắn sát chiếm diện tích gần nửa bức tường chính diện. Thôi thì đủ thương hiệu rượu danh tiếng: từ Chivas, Hennessy, Napoleon, Johnnie Walker cho tới Vodka xịn tận bên Nga… được gia chủ bày khá ngay ngắn trên kệ. Ông đi giới thiệu cho chúng tôi xuất xứ từng chai rượu: chai này thằng bạn đi nước ngoài về tặng, chai kia đồng nghiệp cho, chai nọ do cấp dưới biếu với giọng khá hào hứng cũng như thể hiện sự am hiểu về rượu ngoại….

…(2) Câu chuyện thứ hai tôi muốn đề cập với các bạn thói quen đọc sách của người Do Thái. “Trong mỗi gia đình Do Thái luôn luôn có 1 tủ sách được truyền từ đời này sang đời khác. Tủ sách phải được đặt ở vị trí đầu giường để trẻ nhỏ dễ nhìn, dễ thấy từ khi còn nằm nôi. Để sách hấp dẫn trẻ, phụ huynh Do Thái thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý.” Tác giả Nguyễn Hương trong bài “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện” (đăng trên trang tin điện tử Cinet.com của Bộ VH-TT-DL) kể với chúng ta như vậy.

…(3) Câu chuyện về cái “tủ rượu” của ông tá hải quân trong câu chuyện đầu bài và cái “tủ sách” của người Do Thái, hay câu chuyện “văn hóa đọc” của người Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với khoảng cách phát triển hiện tại giữa chúng ta với thế giới. Để đất nước và con người Việt Nam phát triển về mọi mặt, bền vững, việc đầu tiên là phải làm sao để “văn hóa đọc” của người Việt lan tỏa và thăng hoa, tạo thói quen đọc sách và yêu sách. Muốn phát triển như Âu-Mỹ, Nhật hay người Do Thái, trước hết phải học hỏi văn hóa đọc từ họ. Phải làm sao nhà nhà đều có “tủ sách” để tự hào và gieo hạt, chứ không phải là “tủ rượu” để khoe mẽ vật chất và phô trương cái tư duy trọc phú. Mọi thay đổi phải bắt đầu từ thế hệ trẻ.”

(Dẫn theo http://vanhoagiaoduc.vn/tu-ruou-cua-nguoi-viet-va-tu-sach-cua-nguoi-do-thai-19029.html)

1/ Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

2/ Các ý trong đoạn trích trên được trình bày theo kiểu nào? (0,25 điểm)

3/ Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của toàn bộ đoạn trích trên (0,5 điểm)

4/ Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 giải pháp để phát triển “văn hóa đọc” của người Việt. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

BÀI TẬP 5 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Câu 1. Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)

Câu 3. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích. (0,25 điểm)

Câu 4. Từ đoạn trích, anh/chị hãy nêu quan điểm của mình về vai trò của tiếng nói dân tộc trong bối cảnh hiện nay. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

BÀI TẬP 6: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre không ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người

Chẳng may thân gãy cành rơi

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng

Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường

Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

1/Hãy xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

2/ Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

3/ Nêu 2 biện pháp tu từ tác giả sử dụng chủ yếu trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

4/ Hai dòng thơ: “Lưng trần phơi nắng phơi sương/ Có manh áo cộc tre nhường cho con” biểu đạt vấn đề gì? (0,25 điểm)

BÀI TẬP 7: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

“Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.”

(Trích “Chiếu cầu hiền”- Ngô Thì Nhậm)

1/ Đoạn văn được viết với phong cách ngôn ngữ nào? (0.5 điểm) Nội dung của đoạn văn là gì? (0.5 điểm)

2/Nét đặc sắc trong hình thức lập luận của tác giả trong đoạn văn trên? (1.0)

 

BÀI TẬP 8: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.”

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn…- Phạm Lữ Ân)

1/ Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0,5 điểm)

 

2/  Xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn. (0,5 điểm)

 

3/ Chỉ ra điểm giống nhau về cách lập luận trong 4 câu đầu của đoạn trích. (0,25 điểm)

4/ Cho mọi người biết giá trị riêng (thế mạnh riêng) của bản thân bạn. Trả lời trong khoảng từ 3 – 4 câu. (0,25 điểm)

BÀI TẬP 9: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Biết khao khát những điều anh mơ ước

Biết xúc động qua nhiều nhận thức

Biết yêu anh và biết được anh yêu

Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh

(Trích Tự hát – Xuân Quỳnh)

1/  Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

2/ Nêu ý nghĩa của câu thơ Biết khao khát những điều anh mơ ước. (0,5 điểm)

3/ Trong khổ thơ thứ nhất, những từ ngữ nào nêu lên những trạng thái cảm xúc, tình cảm của nhân vật “em”? (0,25 điểm)

4/ Điều giãi bày gì trong hai khổ thơ trên đã gợi cho anh chị nhiều suy nghĩ nhất? Trả lời trong khoảng từ 3 – 4 câu. (0,25 điểm)

BÀI TẬP 10: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.

– Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ.

Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về ! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn các vầng đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia đồng ruộng mênh mang và yên lặng”.

                                        (Trích “Hai đứa trẻ”- Thạch Lam)

 

1/ Cảnh được miêu tả trong đoạn trích có những hình ảnh tương phản, anh (chị) hãy chỉ ra những hình ảnh tương phản đó (1,0 điểm)

2/ Tâm trạng của hai chị em Liên được miêu tả trong đoạn trích có niềm khao khát gì ? (1,0 điểm)

BÀI TẬP 11 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

1/ Đoạn văn trên thuộc văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai? Viết trong thời gian nào? (0,25 điểm)

2/ Đoạn văn nói về vấn đề gì? Cách diễn đạt của tác giả có gì đặc sắc? (0,5 điểm

3/ Anh (chị) hiểu như thế nào về bề rộng và bề sâu mà tác giả nói đến ở đây? (0,25 điểm)

4/ Nội dung của đoạn văn giúp gì cho anh (chị) trong việc đọc — hiểu các bài thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông? (0,5 điểm)

BÀI TẬP 12 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

 Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,                      

 Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 144)

1/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản. (0,25 điểm)

2/ Văn bản sử dụng biện pháp tu từ gì? Cách sử dụng biện pháp tu từ ấy ở đây có gì đặc sắc? (0,5 điểm)

3 Anh (chị) hiểu thế nào về cụm từ “con gặp lại nhân dân” ở văn bản? (0,25 điểm)

4/  Hãy nói rõ niềm hạnh phúc của nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện trong văn bản. (0,5 điểm)

BÀI TẬP 13: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

                         Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

                     Một người chín nhớ mười mong một người.

                          Gió mưa là bệnh của giời,

                     Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

                                                              ( Tương tư, Nguyễn Bính )

1/ Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của nhân vật trữ tình ?

2/ Phân tích hiệu quả sử dụng biện pháp tu từ trong hai câu thơ đầu của đoạn thơ.

3/ Những yếu tố nào trong đoạn thơ thể hiện chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính ? 

BÀI TẬP 14: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

– Tnú không cứu được vợ được con. Tối đó Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó đứng đằng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó  đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…

1/ Đoạn văn trên là lời ai? Nói với ai? Trong hoàn cảnh nào?

2/ Người kể chuyện nhắc đi nhắc lại những chi tiết:  Tnú không cứu được vợ được con, chỉ có hai bàn tay trắng nhằm mục đích gì?

3/ Từ câu chuyện cuộc đời Tnú và đoạn đời đau thương của làng Xô Man, người kể chuyện rút ra chân lí lịch sử nào? Viết một đoạn văn (từ 5-7 câu) nêu suy nghĩ của anh/ chị về chân lí đó.

BÀI TẬP 15 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

        Lá đỏ   – Nguyễn Đình Thi –

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường như quê hương

Vai áo bạc quàng súng trường.

Đoàn quân vẫn đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa.

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.

Em vẫy tay cười đôi mắt trong.

                                  (Trường Sơn, 12/1974)

1/ Dựa vào những thông tin trong tác phẩm, hãy nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời của bài thơ. (0,25đ)

2/ Bài thơ được viết theo thể thơ nào?  (0,25đ)

3/ Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ Em đứng bên đường như quê hương?  (0,25đ)

4/ Chỉ ra các hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Các hình ảnh đó tạo nên bức tranh rừng Trường Sơn như thế nào? (0,5đ)

5/ Không khí hành quân hào hùng, thần tốc được gợi lên qua hình ảnh nào? Từ hình ảnh này, anh/chị có thể liên tưởng đến hình ảnh nào trong một bài thơ đã học? (0,5đ)

6/ Hình ảnh “em gái tiền phương” được khắc họa như thế nào? Hình ảnh đó gợi lên cho anh/chị suy nghĩ gì về sự góp mặt của những người phụ nữ trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc? (0,5đ)

7/ Bài thơ từng được cho là có những dự cảm, dự báo về thắng lợi  tất yếu của dân tộc. Theo anh/ chị điều đó được thể hiện qua câu thơ hoặc hình ảnh thơ nào? (0,25đ)

8/ Nêu những biểu hiện của không khí sử thi và lãng mạn được thể hiện trong bài thơ (0,5đ)

BÀI TẬP 16: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động

Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng

Ðã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng

Tôi nhớ bờ tre gió lộng

Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau

Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau

Có tiếng gà gáy sớm

Có “khai hội, yêu cầu, chất vấn”

Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa

Trăng lên tập hợp hát om nhà

  1. Bảy câu thơ cuối dùng biện pháp nghệ thuật chủ đạo là gì? Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp nghệ thuật em vừa chỉ ra (0,5 điểm)
  2. Cảm xúc – tư tưởng chủ đạo của nhà thơ ở đoạn thơ trên (0,5 điểm)
  3. Nhận xét về đặc điểm của người lính trong đoạn trích trên? (1,0 điểm)

BÀI TẬP 17: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

            “…Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

             Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.

             Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

             Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa…”

                               (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

1/Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả?

2/ Xác định những phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ?

3/ Hình ảnh “Mẹ yêu thương” được tác giả sử dụng để chỉ ai? Vì sao?

4/Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ và nêu hiệu quả biểu đạt của chúng?
BÀI TẬP 18: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

       “… Với một tốc độ truyền tải như vũ bão, Internet nói chung, Facebook nói riêng hàm chứa hiều thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí độc hại. Vì thế, nó cực kì nguy hiểm, có thể gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, kinh tế, đạo đức … và nhiều mặt của đời sống, có thể gây nguy hại cho quốc gia, tập thể hay các cá nhân. Do được sáng tạo trong môi trường ảo, thậm chí nặc danh nên nhiều “ngôn ngữ mạng” trở nên vô trách nhiệm, vô văn hóa…  Không ít kẻ tung lên Facebook những ngôn ngữ tục tĩu, bẩn thỉu nhằm nói xấu, đả kích, thóa mạ người khác. Chưa kể đến những hiện tượng xuyên tạc tiếng Việt, viết tắt, kí hiệu đến kì quặc, tùy tiện đưa vào văn bản những chữ z, f, w vốn không có trong hệ thống chữ cái tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt…”        

(Trích “Bàn về Facebook với học sinh”, Lomonoxop. Edu.vn)

1/Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

2/ Nội dung khái quát của văn bản trên?

3/ Yếu tố nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong văn bản trên? Tác dụng?

BÀI TẬP 19 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39 – 40)

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.

2. Nêu các dạng phép điệp của văn bản và hiệu quả nghệ thuật của chúng?

  1. Nội dung chính của văn bản là gì?

BÀI TẬP 20 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

:Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…

Chiều nay con chạy về thăm Bác

Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Con lại lần theo lối sỏi quen

Đến bên thang gác, đứng nhìn lên

Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?

Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

(Trích Bác ơi! – Tố Hữu)

  1. Nêu phương thức biểu đạt của đoạn thơ?.
  2. Nội dung chính của đoạn thơ là gì?
  3. Xác định nhịp thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật cách sử dụng nhịp thơ ở 2 câu thơ cuối ởđoạn thơ thứ 2?

BÀI TẬP 21 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

(Trích Đò Lèn – Nguyễn Duy)

  1. Tại sao viết về bà, tác giả liên tưởng đến “dòng sông xưa ” trong đoạn thơ?
  2. Các từ “đã muộn”, “nấm cỏ ” có vai trò gì trong việc thể hiện tâm trạng của nhà thơ?
  3. Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về vấn đề đặt ra qua đoạn thơ.

BÀI TẬP 22 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

 Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,

 Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

 Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

(Trích Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau :

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ?
  2. Xác định các biện pháp tu từ trong đoạn thơ và nêu tác dụng của nó trong việc thể hiện

nội dung?

  1. Nêu ngắn gọn chiều sâu triết lí trong câu thơ : Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. ?


BÀI TẬP 23 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa chết mẹ nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết…

(Trích “Chí Phèo” – Nam Cao).

  1. Tác giả đã sử dụng những kiểu câu nào?
  2. Văn bản trên nói về điều gì?
  3. Trong văn bản trên, Chí Phèo đã chửi những ai? Tiếng chửi của Chí có ý nghĩa gì?
  4. Đặt tiêu đề cho văn bản trên.

BÀI TẬP 23 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ. (Trích “Chữ người tử tù” – Nguyễn Tuân)

  1. Văn bản trên nói về điều gì?
  2. Vản đã sử dụng thành công biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của phép tu từ đó?

BÀI TẬP 24 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta, nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

  1. Nêu nội dung đoạn thơ? Đoạn thơ được viết theo thể thơ gì?
  2. Trong ba dòng thơ “Gió thổi rừng tre phấp phới/ Trời thu thay áo mới/ Trong biếc nói cười thiết tha”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì? Hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
  3. Đoạn thơ từ câu “Trời xanh đây là của chúng ta” đến câu “Những buổi ngày xưa vọng nói về” có sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ. Hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ đó.
  4. Cả đoạn thơ cho ở đề bài tập trung miêu tả hình ảnh gì? Hình ảnh đó hiện ra như thế nào ?
  5. Hãy ghi lại cảm xúc của nhà thơ mà em cảm nhận được qua đoạn thơ trên.
  6. Chữ “khuất” trong câu thơ “Nước chúng ta, nước những người chưa bao giờ khuất” có ý nghĩa gì ?

BÀI TẬP 25 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng)

  1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?
  2. Nêu nội dung cơ bản của văn bản
  3. Văn bản có sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ ngữ đó và nêu tác dụng của chúng.
  4. Chỉ ra phép tu từ nói giảm được sử dụng trong văn bản và nêu tác dụng của phép tu từ đó.

BÀI TẬP 26 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

  • Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

  • Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Trích “Việt Bắc” – Tố Hữu)

1/ Văn bản trên được được tổ chức theo hình thức nào?

2/ Vản bản nói về nội dung gì?

3/ Nội dung đó được thể hiện thông qua việc sử dụng từ ngữ, kiểu câu như thế nào?

4/ Văn bản đã sử dụng thành công các biện pháp tu từ cơ bản nào? Nêu tác dụng cụ thể của các phép tu từ trên

5/ Hãy đặt tiêu đề cho văn bản trên.

 

BÀI TẬP 27 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Trăng nở nụ cười

Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo

Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao

Vẫn vườn chuối gió lao xao

Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền

Ả ngớ ngẩn

Gã khùng điên

Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người

Vườn sông trăng nở nụ cười

Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau

Giữa đời vàng lẫn với thau

Lòng tin còn chút về sau để dành

Tình yêu nên vị cháo hành

Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi.

                              (Lê Đình Cánh)

1/ Xác định thể thơ? Cách gieo vần?

2/ Bài thơ giúp em liên tưởng đến tác phẩm nào đã học trong chương trình phổ thông?

3/ Câu thơ: “Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người” có ý nghĩa gì? Liên hệ với nhân vật chính trong tác phẩm mà em vừa liên hệ ở câu 2.

4/ Vị cháo hành được nhắc đến trong hai câu thơ cuối là một chi tiết nghệ thuật đặc sẳc trong một tác phẩm của Nam Cao. Hãy nêu ý nghĩa của hai câu thơ này với chi tiết nghệ thuật ấy?

BÀI TẬP 28: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau – rạn vỡ”.

(Xuân Quỳnh – “Thuyền và biển”)

1/ Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào? Thể thơ đó có tác dụng ra sao trong việc diễn đạt nội dung đoạn thơ?

2/ Nội dung của hai đoạn thơ trên là gi?

3/ Nêu biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng? Tác dung?

BÀI TẬP 29 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”.

1/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?

2/ Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn?

3/ Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý nghĩa gì?

BÀI TẬP 30 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Chứng kiến sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chứng kiến những dòng chảy yêu thương của dân tộc giành cho Đại tướng, rất nhiều người bày tỏ sự xúc động sâu sắc. Thượng tá Dương Việt Dũng chia sẻ: “Sự ra đi của Đại tướng là một mất mát lớn lao đối với gia đình và nhân dân cả nước. Nhưng qua đây, tôi cũng thấy mừng là những người đến viếng Đại tướng không chỉ có những cựu chiến binh mà rất đông thế hệ trẻ, có không ít những em còn rất nhỏ cũng được gia đình đưa đi viếng… Có nhiều cụ già yếu cũng đến, cả những người đi xe lăn cũng đã đến trong sự thành kính. Chưa khi nào tôi thấy người ta thân ái với nhau như vậy.”.

(Theo Dân trí)

a/ Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

 b/ Nội dung của văn bản trên? Hãy đặt tên cho văn bản?

c/ Viết bài nghị luận xã hội về bản tin trên (không quá 600 từ).

BÀI TẬP 31: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

(Hồ Chí Minh – “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”)

a/ Nội dung của đoạn văn?

b/ Phương thức trình bày? Phong cách ngôn ngữ chức năng được sử dụng trong

đoạn?

c/ Thái độ, quan điểm chính trị của Bác?

BÀI TẬP 32 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 Trong bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước phiên thảo luận cấp cao của Đại Hội đồng LHQ khóa 68 có đoạn:

Thưa quý vị! Đã phải trải qua những cuộc chiến tranh ngoại xâm tàn bạo và đói nghèo cùng cực nên khát vọng hòa bình và thịnh vượng của Việt Nam chúng tôi càng cháy bỏng. Chúng tôi luôn nỗ lực tham gia kiến tạo hòa bình, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ hành tinh của chúng ta. Việt Nam đã sẵn sàng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ. Chúng tôi sẵn lòng đóng góp nguồn lực, dù còn nhỏ bé, như sự tri ân đối với bạn bè quốc tế đã giúp chúng tôi giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước, thoát khỏi đói nghèo. Việt Nam đã và sẽ mãi mãi là một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế…”.

a/ Xác định phong cách ngôn ngữ chức năng của đoạn văn?

b/ Phương thức liên kết?

c/ Hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn?

BÀI TẬP 33 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tương xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sang đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên bà ái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa.

Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trằng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”.

a/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai? Mô tả cảnh tượng gì?

b/ Cảnh tượng có hàm chứa nhiều yếu tố tương phản? Đó là yếu tố gì?

c/ Đoạn văn được trình bày theo phương thức nào?

3. Trong đọan văn:

Tiếng nói là người bảo vệ qúi báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của Châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đè thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọnh giải phóng giống nòi….Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Trích “Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức”- Nguyễn An Ninh )

a/ Đoạn trích trên thuộc văn bản nào? Của ai?

b/ Nội dung cơ bản của đoạn trích là gì?

c/ Đoạn trích được diễn đạt theo phương thức nào?

d/ Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?

 

 

 

 

Luyện tập phần đọc hiểu văn bản

                   ÔN TẬP PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

BÀI TẬP 1 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

” Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm đà là Thế Lữ. (…)

Nhưng đến năm 1936, ảnh hưởng Pháp lại thấm thía thêm một tầng nữa.Trong thơ Thế Lữ ta chỉ thấy ẩn hiện đôi nhà thơ Pháp về thời lãng mạn.Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ mới một cách rõ rệt.Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa .Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xưa ai nấy về hạ giới.Với một nghệ thuật tinh vi đã học được của Bô-đơ-le, Xuân Diệu diễn tả lòng ham sống bồng bột trong thơ ĐơNô-ai và trong văn Gi-nơ.(…)

ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm. Qua năm 1938, Huy Cận ra đời, nó đã bắt đầu xuống, mặc dầu Huy Cận cũng chịu ảnh hưởng thơ Pháp gần đây, nhất là ảnh hưởng Véc-len.(…)

Trái hẳn với lối thơ tả chân Hàn Mặc Tử- Chế Lan Viên .Cả hai đều chịu ảnh hưởng Bô-đơ-le và qua Bơ-đơ-le, ảnh hưởng nhà văn Mĩ ét-gaPô, tác giả tập ” Chuyện lạ”.Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Bô-đơle, ét-gaPô đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường tới Bô-đơ-le, ét-gaPô và đi thêm một đoạn nữa gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa.(…)

Viết xong đoạn trên này đọc lại tôi thấy khó chịu. Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp. ấy chỉ vì tôi tìm ảnh hưởng để chia xu hướng .Sự thực đâu có thế.Tiếng Việt, tiếng Pháp khác nhau xa. Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hoá hoàn toàn .Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến ĐơNô-ai … Thi văn Pháp không mất bản sắc Việt Nam .Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải”

(Theo Hoài Thanh-Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam)

1/  Đoạn trích viết theo phong cách nào ? Phương thức biểu đạt  nào ?

2/ Tác giả viết về vấn đề gì? Quan điểm của các tác giả đối với vấn đề đó như thế nào?

3 Tác giả đã sử dụng thao tác lập luận nào là chủ yếu? Ngoài ra trong đoạn trích còn có thao tác lập luận nào khác nữa không? Tác dụng?

BÀI TẬP 2 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

« …. Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá. »

1/  Đoạn trích viết theo phong cách nào ? Phương thức biểu đạt  nào ?

2/ Xác định ý chính của đoạn văn?

3/ Chỉ ra và phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn?

BÀI TẬP 3 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Trên những trang vở học sinh

Trên bàn học trên cây xanh

Trên đất cát và trên tuyết

Tôi viết tên em

…Trên sức khỏe được phục hồi

Trên hiểm nguy đã tan biến

Trên hi vọng chẳng vấn vương

Tôi viết tên em

Và bằng phép màu một tiếng

Tôi bắt đầu lại cuộc đời

Tôi sinh ra để biết em

Để gọi tên em

TỰ DO

(Tự do – Pôn Ê-luy-a – SGK Ngữ văn 12, cơ bản, tập 1,tr. 120)

1/. Cho biết đoạn thơ trên thuộc thể thơ nào? (0,25 điểm)

2/. Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên (0,5 điểm)

3/ Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên (0,25 điểm)

4/ Anh/chị hãy giải thích ngắn gọn mục đích của tác giả khi viết từ TỰ DO ở cuối bài thơ bằng chữ in hoa? (0,5 điểm)

BÀI TẬP 4 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

“Tủ rượu” của người Việt và “tủ sách” của người Do Thái

“(1) Hôm rồi tôi có dịp ghé nhà một ông tá hải quân cùng quê chơi. Ông hiện phụ trách quân lực của cả một vùng. Ông vừa cất xong ngôi nhà (biệt thự thì đúng hơn) và sắm xe hơi mới. Bước vào phòng khách ngôi nhà, ập vào mắt tôi chính là chiếc tủ rượu hoành tráng được gắn sát chiếm diện tích gần nửa bức tường chính diện. Thôi thì đủ thương hiệu rượu danh tiếng: từ Chivas, Hennessy, Napoleon, Johnnie Walker cho tới Vodka xịn tận bên Nga… được gia chủ bày khá ngay ngắn trên kệ. Ông đi giới thiệu cho chúng tôi xuất xứ từng chai rượu: chai này thằng bạn đi nước ngoài về tặng, chai kia đồng nghiệp cho, chai nọ do cấp dưới biếu với giọng khá hào hứng cũng như thể hiện sự am hiểu về rượu ngoại….

…(2) Câu chuyện thứ hai tôi muốn đề cập với các bạn thói quen đọc sách của người Do Thái. “Trong mỗi gia đình Do Thái luôn luôn có 1 tủ sách được truyền từ đời này sang đời khác. Tủ sách phải được đặt ở vị trí đầu giường để trẻ nhỏ dễ nhìn, dễ thấy từ khi còn nằm nôi. Để sách hấp dẫn trẻ, phụ huynh Do Thái thường nhỏ nước hoa lên sách để tạo mùi hương cho các em chú ý.” Tác giả Nguyễn Hương trong bài “Người Việt ít đọc sách: Cần những chính sách để thay đổi toàn diện” (đăng trên trang tin điện tử Cinet.com của Bộ VH-TT-DL) kể với chúng ta như vậy.

…(3) Câu chuyện về cái “tủ rượu” của ông tá hải quân trong câu chuyện đầu bài và cái “tủ sách” của người Do Thái, hay câu chuyện “văn hóa đọc” của người Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với khoảng cách phát triển hiện tại giữa chúng ta với thế giới. Để đất nước và con người Việt Nam phát triển về mọi mặt, bền vững, việc đầu tiên là phải làm sao để “văn hóa đọc” của người Việt lan tỏa và thăng hoa, tạo thói quen đọc sách và yêu sách. Muốn phát triển như Âu-Mỹ, Nhật hay người Do Thái, trước hết phải học hỏi văn hóa đọc từ họ. Phải làm sao nhà nhà đều có “tủ sách” để tự hào và gieo hạt, chứ không phải là “tủ rượu” để khoe mẽ vật chất và phô trương cái tư duy trọc phú. Mọi thay đổi phải bắt đầu từ thế hệ trẻ.”

(Dẫn theo http://vanhoagiaoduc.vn/tu-ruou-cua-nguoi-viet-va-tu-sach-cua-nguoi-do-thai-19029.html)

1/ Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? (0,25 điểm)

2/ Các ý trong đoạn trích trên được trình bày theo kiểu nào? (0,25 điểm)

3/ Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của toàn bộ đoạn trích trên (0,5 điểm)

4/ Anh/chị hãy nêu ít nhất 02 giải pháp để phát triển “văn hóa đọc” của người Việt. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

BÀI TẬP 5 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “… Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Câu 1. Hãy xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích? (0,25 điểm)

Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,5 điểm)

Câu 3. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích. (0,25 điểm)

Câu 4. Từ đoạn trích, anh/chị hãy nêu quan điểm của mình về vai trò của tiếng nói dân tộc trong bối cảnh hiện nay. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)

BÀI TẬP 6: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Bão bùng thân bọc lấy thân

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre không ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người

Chẳng may thân gãy cành rơi

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng

Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường

Lưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

1/Hãy xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên? (0,25 điểm)

2/ Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

3/ Nêu 2 biện pháp tu từ tác giả sử dụng chủ yếu trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

4/ Hai dòng thơ: “Lưng trần phơi nắng phơi sương/ Có manh áo cộc tre nhường cho con” biểu đạt vấn đề gì? (0,25 điểm)

BÀI TẬP 7: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

“Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.”

(Trích “Chiếu cầu hiền”- Ngô Thì Nhậm)

1/ Đoạn văn được viết với phong cách ngôn ngữ nào? (0.5 điểm) Nội dung của đoạn văn là gì? (0.5 điểm)

2/Nét đặc sắc trong hình thức lập luận của tác giả trong đoạn văn trên? (1.0)

 

BÀI TẬP 8: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.”

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn…- Phạm Lữ Ân)

1/ Gọi tên phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. (0,5 điểm)

 

2/  Xác định câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn. (0,5 điểm)

 

3/ Chỉ ra điểm giống nhau về cách lập luận trong 4 câu đầu của đoạn trích. (0,25 điểm)

4/ Cho mọi người biết giá trị riêng (thế mạnh riêng) của bản thân bạn. Trả lời trong khoảng từ 3 – 4 câu. (0,25 điểm)

BÀI TẬP 9: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện các yêu cầu:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Biết khao khát những điều anh mơ ước

Biết xúc động qua nhiều nhận thức

Biết yêu anh và biết được anh yêu

Mùa thu nay sao bão mưa nhiều

Những cửa sổ con tàu chẳng đóng

Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm

Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh

(Trích Tự hát – Xuân Quỳnh)

1/  Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên. (0,5 điểm)

2/ Nêu ý nghĩa của câu thơ Biết khao khát những điều anh mơ ước. (0,5 điểm)

3/ Trong khổ thơ thứ nhất, những từ ngữ nào nêu lên những trạng thái cảm xúc, tình cảm của nhân vật “em”? (0,25 điểm)

4/ Điều giãi bày gì trong hai khổ thơ trên đã gợi cho anh chị nhiều suy nghĩ nhất? Trả lời trong khoảng từ 3 – 4 câu. (0,25 điểm)

BÀI TẬP 10: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.

– Tàu hôm nay không đông, chị nhỉ.

Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu hôm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về ! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn các vầng đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia đồng ruộng mênh mang và yên lặng”.

                                        (Trích “Hai đứa trẻ”- Thạch Lam)

 

1/ Cảnh được miêu tả trong đoạn trích có những hình ảnh tương phản, anh (chị) hãy chỉ ra những hình ảnh tương phản đó (1,0 điểm)

2/ Tâm trạng của hai chị em Liên được miêu tả trong đoạn trích có niềm khao khát gì ? (1,0 điểm)

BÀI TẬP 11 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”.

1/ Đoạn văn trên thuộc văn bản nào? Tác giả của văn bản đó là ai? Viết trong thời gian nào? (0,25 điểm)

2/ Đoạn văn nói về vấn đề gì? Cách diễn đạt của tác giả có gì đặc sắc? (0,5 điểm

3/ Anh (chị) hiểu như thế nào về bề rộng và bề sâu mà tác giả nói đến ở đây? (0,25 điểm)

4/ Nội dung của đoạn văn giúp gì cho anh (chị) trong việc đọc — hiểu các bài thơ mới trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông? (0,5 điểm)

BÀI TẬP 12 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

 Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,                      

 Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 144)

1/ Xác định phương thức biểu đạt của văn bản. (0,25 điểm)

2/ Văn bản sử dụng biện pháp tu từ gì? Cách sử dụng biện pháp tu từ ấy ở đây có gì đặc sắc? (0,5 điểm)

3 Anh (chị) hiểu thế nào về cụm từ “con gặp lại nhân dân” ở văn bản? (0,25 điểm)

4/  Hãy nói rõ niềm hạnh phúc của nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện trong văn bản. (0,5 điểm)

BÀI TẬP 13: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

                         Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

                     Một người chín nhớ mười mong một người.

                          Gió mưa là bệnh của giời,

                     Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

                                                              ( Tương tư, Nguyễn Bính )

1/ Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của nhân vật trữ tình ?

2/ Phân tích hiệu quả sử dụng biện pháp tu từ trong hai câu thơ đầu của đoạn thơ.

3/ Những yếu tố nào trong đoạn thơ thể hiện chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính ? 

BÀI TẬP 14: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

– Tnú không cứu được vợ được con. Tối đó Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó đứng đằng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó  đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…

1/ Đoạn văn trên là lời ai? Nói với ai? Trong hoàn cảnh nào?

2/ Người kể chuyện nhắc đi nhắc lại những chi tiết:  Tnú không cứu được vợ được con, chỉ có hai bàn tay trắng nhằm mục đích gì?

3/ Từ câu chuyện cuộc đời Tnú và đoạn đời đau thương của làng Xô Man, người kể chuyện rút ra chân lí lịch sử nào? Viết một đoạn văn (từ 5-7 câu) nêu suy nghĩ của anh/ chị về chân lí đó.

BÀI TẬP 15 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

        Lá đỏ   – Nguyễn Đình Thi –

Gặp em trên cao lộng gió

Rừng lạ ào ào lá đỏ

Em đứng bên đường như quê hương

Vai áo bạc quàng súng trường.

Đoàn quân vẫn đi vội vã

Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa.

Chào em, em gái tiền phương

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.

Em vẫy tay cười đôi mắt trong.

                                  (Trường Sơn, 12/1974)

1/ Dựa vào những thông tin trong tác phẩm, hãy nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời của bài thơ. (0,25đ)

2/ Bài thơ được viết theo thể thơ nào?  (0,25đ)

3/ Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ Em đứng bên đường như quê hương?  (0,25đ)

4/ Chỉ ra các hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Các hình ảnh đó tạo nên bức tranh rừng Trường Sơn như thế nào? (0,5đ)

5/ Không khí hành quân hào hùng, thần tốc được gợi lên qua hình ảnh nào? Từ hình ảnh này, anh/chị có thể liên tưởng đến hình ảnh nào trong một bài thơ đã học? (0,5đ)

6/ Hình ảnh “em gái tiền phương” được khắc họa như thế nào? Hình ảnh đó gợi lên cho anh/chị suy nghĩ gì về sự góp mặt của những người phụ nữ trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc? (0,5đ)

7/ Bài thơ từng được cho là có những dự cảm, dự báo về thắng lợi  tất yếu của dân tộc. Theo anh/ chị điều đó được thể hiện qua câu thơ hoặc hình ảnh thơ nào? (0,25đ)

8/ Nêu những biểu hiện của không khí sử thi và lãng mạn được thể hiện trong bài thơ (0,5đ)

BÀI TẬP 16: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động

Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng

Ðã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng

Tôi nhớ bờ tre gió lộng

Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau

Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau

Có tiếng gà gáy sớm

Có “khai hội, yêu cầu, chất vấn”

Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa

Trăng lên tập hợp hát om nhà

  1. Bảy câu thơ cuối dùng biện pháp nghệ thuật chủ đạo là gì? Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp nghệ thuật em vừa chỉ ra (0,5 điểm)
  2. Cảm xúc – tư tưởng chủ đạo của nhà thơ ở đoạn thơ trên (0,5 điểm)
  3. Nhận xét về đặc điểm của người lính trong đoạn trích trên? (1,0 điểm)

BÀI TẬP 17: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

            “…Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa

             Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.

             Con đã đi nhưng con cần vượt nữa

             Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa…”

                               (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

1/Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả?

2/ Xác định những phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ?

3/ Hình ảnh “Mẹ yêu thương” được tác giả sử dụng để chỉ ai? Vì sao?

4/Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ và nêu hiệu quả biểu đạt của chúng?
BÀI TẬP 18: Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

       “… Với một tốc độ truyền tải như vũ bão, Internet nói chung, Facebook nói riêng hàm chứa hiều thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí độc hại. Vì thế, nó cực kì nguy hiểm, có thể gây ảnh hưởng xấu đến chính trị, kinh tế, đạo đức … và nhiều mặt của đời sống, có thể gây nguy hại cho quốc gia, tập thể hay các cá nhân. Do được sáng tạo trong môi trường ảo, thậm chí nặc danh nên nhiều “ngôn ngữ mạng” trở nên vô trách nhiệm, vô văn hóa…  Không ít kẻ tung lên Facebook những ngôn ngữ tục tĩu, bẩn thỉu nhằm nói xấu, đả kích, thóa mạ người khác. Chưa kể đến những hiện tượng xuyên tạc tiếng Việt, viết tắt, kí hiệu đến kì quặc, tùy tiện đưa vào văn bản những chữ z, f, w vốn không có trong hệ thống chữ cái tiếng Việt, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt…”        

(Trích “Bàn về Facebook với học sinh”, Lomonoxop. Edu.vn)

1/Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

2/ Nội dung khái quát của văn bản trên?

3/ Yếu tố nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong văn bản trên? Tác dụng?

BÀI TẬP 19 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39 – 40)

  1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.

2. Nêu các dạng phép điệp của văn bản và hiệu quả nghệ thuật của chúng?

  1. Nội dung chính của văn bản là gì?

BÀI TẬP 20 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

:Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…

Chiều nay con chạy về thăm Bác

Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Con lại lần theo lối sỏi quen

Đến bên thang gác, đứng nhìn lên

Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?

Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

(Trích Bác ơi! – Tố Hữu)

  1. Nêu phương thức biểu đạt của đoạn thơ?.
  2. Nội dung chính của đoạn thơ là gì?
  3. Xác định nhịp thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật cách sử dụng nhịp thơ ở 2 câu thơ cuối ởđoạn thơ thứ 2?

BÀI TẬP 21 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

(Trích Đò Lèn – Nguyễn Duy)

  1. Tại sao viết về bà, tác giả liên tưởng đến “dòng sông xưa ” trong đoạn thơ?
  2. Các từ “đã muộn”, “nấm cỏ ” có vai trò gì trong việc thể hiện tâm trạng của nhà thơ?
  3. Viết đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ về vấn đề đặt ra qua đoạn thơ.

BÀI TẬP 22 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

 Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng,

 Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

 Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

(Trích Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau :

  1. Nêu ý chính của đoạn thơ?
  2. Xác định các biện pháp tu từ trong đoạn thơ và nêu tác dụng của nó trong việc thể hiện

nội dung?

  1. Nêu ngắn gọn chiều sâu triết lí trong câu thơ : Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. ?


BÀI TẬP 23 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra!”. Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo. Nhưng mà biết đứa chết mẹ nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết…

(Trích “Chí Phèo” – Nam Cao).

  1. Tác giả đã sử dụng những kiểu câu nào?
  2. Văn bản trên nói về điều gì?
  3. Trong văn bản trên, Chí Phèo đã chửi những ai? Tiếng chửi của Chí có ý nghĩa gì?
  4. Đặt tiêu đề cho văn bản trên.

BÀI TẬP 23 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ. (Trích “Chữ người tử tù” – Nguyễn Tuân)

  1. Văn bản trên nói về điều gì?
  2. Vản đã sử dụng thành công biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của phép tu từ đó?

BÀI TẬP 24 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta, nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

  1. Nêu nội dung đoạn thơ? Đoạn thơ được viết theo thể thơ gì?
  2. Trong ba dòng thơ “Gió thổi rừng tre phấp phới/ Trời thu thay áo mới/ Trong biếc nói cười thiết tha”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì? Hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
  3. Đoạn thơ từ câu “Trời xanh đây là của chúng ta” đến câu “Những buổi ngày xưa vọng nói về” có sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ. Hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ đó.
  4. Cả đoạn thơ cho ở đề bài tập trung miêu tả hình ảnh gì? Hình ảnh đó hiện ra như thế nào ?
  5. Hãy ghi lại cảm xúc của nhà thơ mà em cảm nhận được qua đoạn thơ trên.
  6. Chữ “khuất” trong câu thơ “Nước chúng ta, nước những người chưa bao giờ khuất” có ý nghĩa gì ?

BÀI TẬP 25 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng)

  1. Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?
  2. Nêu nội dung cơ bản của văn bản
  3. Văn bản có sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ ngữ đó và nêu tác dụng của chúng.
  4. Chỉ ra phép tu từ nói giảm được sử dụng trong văn bản và nêu tác dụng của phép tu từ đó.

BÀI TẬP 25 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

  • Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

  • Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Trích “Việt Bắc” – Tố Hữu)

1/ Văn bản trên được được tổ chức theo hình thức nào?

2/ Vản bản nói về nội dung gì?

3/ Nội dung đó được thể hiện thông qua việc sử dụng từ ngữ, kiểu câu như thế nào?

4/ Văn bản đã sử dụng thành công các biện pháp tu từ cơ bản nào? Nêu tác dụng cụ thể của các phép tu từ trên

5/ Hãy đặt tiêu đề cho văn bản trên.

 

BÀI TẬP 26 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

Trăng nở nụ cười

Đâu Thị Nở, đâu Chí Phèo

Đâu làng Vũ Đại đói nghèo Nam Cao

Vẫn vườn chuối gió lao xao

Sông Châu vẫn chảy nôn nao mạn thuyền

Ả ngớ ngẩn

Gã khùng điên

Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người

Vườn sông trăng nở nụ cười

Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau

Giữa đời vàng lẫn với thau

Lòng tin còn chút về sau để dành

Tình yêu nên vị cháo hành

Đời chung bát vỡ thơm lành lứa đôi.

                              (Lê Đình Cánh)

1/ Xác định thể thơ? Cách gieo vần?

2/ Bài thơ giúp em liên tưởng đến tác phẩm nào đã học trong chương trình phổ thông?

3/ Câu thơ: “Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người” có ý nghĩa gì? Liên hệ với nhân vật chính trong tác phẩm mà em vừa liên hệ ở câu 2.

4/ Vị cháo hành được nhắc đến trong hai câu thơ cuối là một chi tiết nghệ thuật đặc sẳc trong một tác phẩm của Nam Cao. Hãy nêu ý nghĩa của hai câu thơ này với chi tiết nghệ thuật ấy?

BÀI TẬP 27 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau – rạn vỡ”.

(Xuân Quỳnh – “Thuyền và biển”)

1/ Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào? Thể thơ đó có tác dụng ra sao trong việc diễn đạt nội dung đoạn thơ?

2/ Nội dung của hai đoạn thơ trên là gi?

3/ Nêu biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng? Tác dung?

BÀI TẬP 28 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”.

1/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?

2/ Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn?

3/ Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý nghĩa gì?

BÀI TẬP 29 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Chứng kiến sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chứng kiến những dòng chảy yêu thương của dân tộc giành cho Đại tướng, rất nhiều người bày tỏ sự xúc động sâu sắc. Thượng tá Dương Việt Dũng chia sẻ: “Sự ra đi của Đại tướng là một mất mát lớn lao đối với gia đình và nhân dân cả nước. Nhưng qua đây, tôi cũng thấy mừng là những người đến viếng Đại tướng không chỉ có những cựu chiến binh mà rất đông thế hệ trẻ, có không ít những em còn rất nhỏ cũng được gia đình đưa đi viếng… Có nhiều cụ già yếu cũng đến, cả những người đi xe lăn cũng đã đến trong sự thành kính. Chưa khi nào tôi thấy người ta thân ái với nhau như vậy.”.

(Theo Dân trí)

a/ Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

 b/ Nội dung của văn bản trên? Hãy đặt tên cho văn bản?

c/ Viết bài nghị luận xã hội về bản tin trên (không quá 600 từ).

BÀI TẬP 30 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

(Hồ Chí Minh – “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”)

a/ Nội dung của đoạn văn?

b/ Phương thức trình bày? Phong cách ngôn ngữ chức năng được sử dụng trong

đoạn?

c/ Thái độ, quan điểm chính trị của Bác?

BÀI TẬP 31 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 Trong bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước phiên thảo luận cấp cao của Đại Hội đồng LHQ khóa 68 có đoạn:

Thưa quý vị! Đã phải trải qua những cuộc chiến tranh ngoại xâm tàn bạo và đói nghèo cùng cực nên khát vọng hòa bình và thịnh vượng của Việt Nam chúng tôi càng cháy bỏng. Chúng tôi luôn nỗ lực tham gia kiến tạo hòa bình, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ hành tinh của chúng ta. Việt Nam đã sẵn sàng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ. Chúng tôi sẵn lòng đóng góp nguồn lực, dù còn nhỏ bé, như sự tri ân đối với bạn bè quốc tế đã giúp chúng tôi giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước, thoát khỏi đói nghèo. Việt Nam đã và sẽ mãi mãi là một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế…”.

a/ Xác định phong cách ngôn ngữ chức năng của đoạn văn?

b/ Phương thức liên kết?

c/ Hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn?

BÀI TẬP 32 : Đọc kỹ đoạn văn bản và trả lời các câu hỏi sau :

 “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tương xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sang đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên bà ái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa.

Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trằng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”.

a/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai? Mô tả cảnh tượng gì?

b/ Cảnh tượng có hàm chứa nhiều yếu tố tương phản? Đó là yếu tố gì?

c/ Đoạn văn được trình bày theo phương thức nào?

3. Trong đọan văn:

Tiếng nói là người bảo vệ qúi báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của Châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đè thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọnh giải phóng giống nòi….Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

(Trích “Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức”- Nguyễn An Ninh )

a/ Đoạn trích trên thuộc văn bản nào? Của ai?

b/ Nội dung cơ bản của đoạn trích là gì?

c/ Đoạn trích được diễn đạt theo phương thức nào?

d/ Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?

 

 

 

 

 

 

 

 

Bên ngôi nhà thân yêu !

unnamed-(2)ab

unnamed-(2)

Cảm nhận của em về phần 1 đoạn trích Trao duyên

A/ MỞ BÀI :

Truyện Kiều tên thực là Đoạn trường tân thanh, có nghĩa là Tiếng kêu dứt ruột mới. Quả vậy trong tác phẩm có vô vàn những tiếng kêu thương, mà Trao duyên có lẽ là tiếng kêu dứt ruột đầu tiên khởi đầu một chuỗi dài đau thương chồng chất lên cuộc đời của một người con gái tài sắc. Thuý Kiều dứt ruột trao duyên bằng những lời thơ tan nát cõi lòng.

     “Cậy em … thơm lây”

 

 B/ THÂN BÀI :

Một ngày kia khi cái “điều đâu bay buộc ai làm” bỗng xảy ra làm cho gia đình Vương Ông tan nát. Và để có ba trăm lạng chuộc cha, Thuý Kiều đã phải cân nhắc giữa hiếu và tình :

Duyên hội ngộ đức cù lao

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành

Kiều đã lựa chọn “làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Mâu thuẫn giữa hiếu và tình đã được nàng giải quyết.Còn lúc này đây lại là lúc nàng đối mặt với hạnh phúc, đối diện với chính mâu thuẫn lòng mình : Tình yêu mãnh liệt và sự chia li vĩnh viễn. Và để giải quyết cái mâu thuẫn đó Kiều phải tâm sự với em về những nỗi bất hạnh của đời mình

1/ Kiều nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim

                        Cậy em em có chịu lời

                     Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

*/ Đó là Lời yêu cầu khẩn thiết của Kiều đối với em

Trọng lượng của hai câu thơ rơi vào bốn chữ :

_ Cậy, chịu, lạy, thưa. Đó là ngôn ngữ và hành động của kẻ dưới nói với bề trên. Nhưng

Kiều là chị tại sao lại phải cạy, lạy thưa với Vân như vậy ?

Đúng ! Kiều là chị, nàng không việc gì phải thưa, phải lạy em. Và nếu cần điều gì ở Thuý Vân Kiều có thể nói với nhờ em, thật thân tình chị em. Nhưng trong đoạn trích này (hoàn cảnh này Nguyễn Du không thể thay thể bốn chữ trên bằng bất cứ chữ nào khác.

        Bởi với bốn chữ ấy Kiều không chỉ dùng lễ để nói chuyện với em, biểu thị tấm lòng kính trọng và biết ơn em mà còn làm cho buổi trao duyên thêm phần trang trọng và thiêng liêng như một buổi lễ.

Hơn nữa còn là

         Bởi bốn chữ ấy mang đậm cái bi kịch của nàng Kiều.

 Câu chuyện mà nàng sắp nói ra đây thực sự là câu chuyện tế nhị, khó nói : Trao duyên.Người ta chie có thể trao gửi nhưng thứ có thể đong, đo đếm được, chứ ai trao duyên bao giờ ? Bởi nó là định tính chứ không phải là định lượng. Thuý Kiều trao duyên, tức là đem duyên chị gán cho duyên em.Tình duyên ấy có thể đẹp với chị nhưng chắc gì đẹp với em. Vân có thể phật ý, có thể xấu hổ, thậm chí còn cảm thấy bị coi thường, bị xúc phạm thì sao. Hiểu hoàn cảnh tế nhị và khó xử của em, Kiều đã phải khẩn khoản van nài. Và cũng chỉ bốn chữ: Cậy chịu, lạy, thưa : mới

       Hàm chứa trọn vẹn nội dung thông báo cũng như ý tứ và hoàn cảnh của Kiều lúc này.

Với bốn chữ ấy, vị thế của chị em Kiều đã thay đổi.

Vẫn xưng hô là chị em mà thực tình trong đó

        Là mối quan hệ giữa ân nhân với kẻ chịu ơn. Bốn chữ ấy đều là lời của kẻ dưới đang nói với bề trên. Chị trở thành kẻ lép vế, phải cạy cục luỵ phiền em.

Để báo đáp ân tình với chàng Kim, Kiều đã phải nhún mình, hạ mình đến tội nghiệp.Nhưng trong từng lời nói và hành động của nàng, ta thấy

       Kiều là người thật thông minh tế nhị và cũng thật trọng nghĩa.

Điều đó chứng tỏ khả năng lựa chọn từ ngữ chính xác của tác giả.

Về nỗi bất hạnh của đời mình, nàng không quá dài lời. Bởi những gì xảy ra ai mà chẳng rõ. Hơn nữa Vân lại là người chứng kiến. Nên :

*/ Kiều chỉ kể vắn tắt những nỗi bất hạnh của mình

Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kỳ

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai

Kể từ khi tình yêu chớm nở, Kiều đang sống trong những ngày hành phúc với bao kỉ niệm êm đềm của tình yêu “ngày quạt ước, đêm chén thề “. Nhưng tai hoạ ập đến, “sự đâu sóng gió bất kì”, thế là tình yêu tan vỡ “giữa đường đứt gánh tương tư”. Mối tình vừa mới chớm nở, Kiều đang nâng niu trên tay bỗng bị cuộc đời tàn nhẫn giật mất. Đó là nỗi bất hạnh lớn trong cuộc đời nàng và cũng là lý do để Kiều phải nhờ cậy Vân. Và

        Bằng một hệ thống hình ảnh mang tính đối lập, bằng lời thơ mang âm hưởng của thành ngữ ca dao kết hợp với từ Hán Việt, Nguyễn Du không chỉ diễn tả được những biến có bất hạnh lớn lao  trong cuộc đời Kiều mà còn làm cho lời tâm sự của Kiều với em vừa gần gũi giản dị lại vừa trang nghiêm, nghiêm túc.

Sau những lời rào trước đón sau bằng sự khẩn khoản van nài, bằng việc kể lại những nỗi bất hạnh của mình, giờ đây Kiều muốn đặt vấn đề trực tiếp với em :

                      Ngày xuân…thơm lây

*/ Kiều (tiếp tục) thuyết phục em thay mình trả nghĩa cho chàng Kim

Em còn trẻ (ngày xuân em hãy còn dài), đáng lẽ em còn được hưởng bao nhiêu mật ngọt của tình yêu, nhưng em hãy thương chị hãy vì nghĩa chị em (xót tình máu mủ) mà đáp nghĩa chàng Kim (thay lời nước non)

Để thuyết phục em, Kiều đã phải viện tình ruột thịt. Mấy chữ “xót tình máu mủ” mới đau đớn làm sao Nó vừa là tiếng kêu nài khẩn thiết đến tan nát cõi lòng của Thuý Kiều, vừa là sự đồng cảm sâu sắc của chị với em. Kiều đã đặt mình vào vị trí của em để hiểu, để cảm tấm lòng của Vân .

        Ngôn ngữ của Kiều với Vân lúc này giàu chất lý trí mang phong cách thành ngữ vừa tỉnh táo sáng suốt vừa giản dị gần gũi thân tình

Trong quan niệm của Kiều, việc Vân lấy Kim Trọng trước hết là xót tình máu mủ mà thực chất là sự hi sinh của Vân vì Kiều. Nên Kiều dù thịt nát xương mòn ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây. Lòng tạ ơn nghe sao mà đau đớn ! Ơn ấy dù đến chết chị vẫn còn ghi nhận. Hơn thế chị “hãy còn thơm lây”. Nghĩa là nghĩa cử của em, sự hi sinh của em thật vô cùng cao quí, có chết chị cũng vui lòng và vinh dự vì nghĩa cử ấy. Đưa ra lý do trên chứng tỏ

        Kiều thật thông minh khôn khéo, ràng buộc Thuý Vân bằng những mối quan hệ tình cảm vì cây dây leo, buộc Vân mặc nhiên phải chấp nhận.

Kiều thông minh khôn khéo. Nhưng đằng sau sự thông minh khôn khéo ấy, tận đáy lòng Kiều đau đớn biết bao. Bởi ai chẳng khát khao hạnh phúc, ai chẳng mong muốn được gắn bó với người mình yêu. Một người con gái đa cảm dám xăm xăm băng lối vườn khuya một mình để đến nhà người yêu thì mong muốn, khát vọng ấy càng trở nên mãnh liệt hơn ai hết. Vậy mà Kiều đành lòng phải dứt bỏ, nỗi đau ấy như dao cắt ruột,cắt gan.Và chắc chắn Kiều đã phải gắng gượng biết bao, có gắng biết bao để có sự tỉnh táo và lý trí đến vậy

C/ KẾT LUẬN

Cảm nhận của em về bài Chiều tối của Hồ Chí Minh

  A/ MỞ BÀI

_ Hồ Chí Minh tên thiếu thời là Nguyễn Sinh Cung,tên thời kỳ đầu hoạt động là Nguyễn ái Quốc . Người  sinh ngày 19-5-1890. Tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ A. Cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là cụ Hoàng Thị Loan.

_ Năm 1911 Bác ra đi tìm đường cứu nước, và kể từ ngày đó đến khi mất, toàn bộ cuộc đời của Người gắn bó chặt chẽ với Cách mạng Việt Nam, với dân tộc Việt Nam.

_ Hồ Chí Minh vào đời không phải mục đích là làm văn nghệ. Nhưng thực tế, Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương vô giá.Như Nhật ký trong tù, Tuyên ngôn Độc lập, Truyện và ký Nguyễn Ái Quốc

_ Văn chương Hồ Chí Minh đã kết hợp được sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và  nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. mỗi loại hình văn học của người đều có phong cách riêng, độc đáo , hấp dẫn và có giá trị bền vững.

_Và bạn đọc còn nhớ mãi tập Nhật ký trong tù với bài thơ là Chiều tối

B/ THÂN BÀI

I/ GIỚI THIỆU CHUNG

1/ XUẤT XỨ

 _ Bài thơ được rút trong tập NKTT

_ Trên đường chuyển lao khổ ải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo thuộc tỉnh Quảng Tây Trung Quốc ,Bác Hồ viết liền năm bài thơ .Chiều Tối là bài thơ thứ ba trong chùm thơ này .

2/ CHỦ ĐỀ :

Bài thơ được sáng tác theo thể thơ Đường luật  thất ngôn tứ tuyệt. Vì thế nó mang đậm phong vị Đường thi ở bút pháp nghệ thuật lấy cảnh để ngụ tình, lấy động tả tĩnh, lấy ít gộ nhiều. Nhưng Bài thơ còn được sáng tác bởi người Cộng sản Hồ Chí Minh nên bên cạnh phong vị cổ điển nó đây còn là một bài thơ  hiện đại. Chất hiện đại được bộc lộ ở sự vận động của hình tượng thơ, nhất là tấm lòng tư tưởng của thi nhân :yêu thiên nhiên, yêu con người, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ Hồ Chí Minh

 

II/ CẢM NHẬN:

1/ Bài thơ được mở đầu bằng một bức tranh phong cảnh thiên nhiên

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

              Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không

 Nhà thơ không trực tiếp nói về thời gian nhưng

*/ thời gian vẫn hiện về qua cảnh vật :

- Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chim bay về tổ đúng là dấu hiệu của chiều tối, chiều muộn.

Điều này ta thường thấy trong thơ ca : như: “chim bay về núi tối rồi”(ca dao); “chim hôm thoi thót về rừng”(TK); “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”(BHTQ); “Mây vẩn tầng không chim bay đi”(XD); “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”(HC).

Có thể nói hình ảnh chim bay về tổ, về rừng sau một ngày kiếm ăn là hình ảnh tiêu biểu mang ý nghĩa thời gian  là cách cảm nhận thời gian mang tính truyền thống mang phong vị Đường thi.

Thời gian còn hiện về qua

_ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

 Hai chi tiết phác họa mà gợi lên cái hồn của cảnh vật, ngày tàn màn đêm buông xuống, tạo vật dần chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi,

Cũng ở hai câu thơ đầu, ta còn cảm nhận

*/không gian của bức tranh thơ là ở chốn núi rừng với ánh sáng của ngày tàn

_ chim mỏi về rừng chốn rừng núi mặt đất âm u

Còn bầu trời thì sao ?

– Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

Ánh sáng làm nền cho khung cảnh thơ là ánh sáng mặt trời vào lúc sắp tắt hẳn ở chốn núi rừng nên trong ánh sáng như thế ta chỉ có thể nhìn thấy đỉnh trời . Người tù ngẩng đầu lên nhìn lên đỉnh trời, nhận ra con chim bay về tổ và chòm mây lững lờ trôi. Điều này nhà thơ không nói, nhưng người đọc có thể cảm nhận được như thế

Cảnh chiều hôm nơi xóm núi kia được đặc tả qua hai câu thơ thất ngôn vừa hình tượng vừa gợi cảm. mặt đất thì âm u mà bầu trời thì rộng lớn thoáng đãng  

Hai câu thơ mang vẻ đẹp cổ điển: Tả ít mà gợi nhiều , mượn điểm để vẽ diện, lấy động để gợi cái tĩnh, lấy cái cực nhỏ , đơn chiếc để diễn tả cái bát ngát mênh mông.

Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả tĩnh lặng hơn. Và như vậy buổi chiều trên đường chuyển lao của tác giả sao mà phảng phất những buổi chiều mà hình sắc đã vĩnh viễn đọng lại trong thơ ca cổ.

Và tất cả đều chứa đầy tâm trạng

* / Tâm trạng nhà thơ

Cảnh bao giờ cũng ngụ tình : Cánh chim chiều của tác giả không phải đang bay trong trạng thái bình thường mà là :

_ “Quyện điểu qui lâm”-“chim mỏi về rừng”. Suốt ngày bay đi kiếm ăn, cánh chim cũng mệt mỏi. Hình ảnh chim chiều nhưng cũng là  Hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của nhà thơ . Nhà thơ cũng mệt mỏi sau một ngày lê bước trên con đường đi đày. Giờ đây không biết đâu là chặng nghỉ chân qua đêm

Câu thơ thứ hai nhà thơ tiếp tục phác hoạ tâm trạng :

_ Cô vân mạn mạn độ thiên khôngà Chòm mây như có tâm hồn, như mang tâm trạng.

Nó cô đơn lẻ loi và lặng lẽ lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều. Bầu trời có chim, có mây nhưng mây lẻ loi, chim mệt mỏi. Đã thế lại đang ở cảnh ngộ chia lìa. Chim bay về rừng, chòm mây ở lại giữa từng không.

Hai câu thơ tả cảnh mà mở ra cả một không gian tâm trạng,cảnh buồn, người buồn.

Vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây cô đơn trôi lẻ loi chầm chậm về phía trời xa gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người. Và không biết tới bao giờ nhà thơ mới được tự do như cánh chim và chòm mây trên bầu trời kia

Nhưng cũng qua hai câu thơ này ta hiểu thêm được nét đẹp trong tâm hồn nhà thơ là :

Dù ở bất kì hoàn cảnh nào, dù phải sống giữa muôn ngàn cực khổ kể cả lúc thân thể mất tự do, Bác vẫn luôn giữ cho mình một tình yêu say đắm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, luôn hoà hồn mình vào hồn của trời đất rộng lớn với sự tự do tuyệt đối của tinh thần như Bác đã từng nói : Vui say ai cấm ta đừng, đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu. Và cũng qua nỗi buồn đó qua tư thế ngẩng đầu dõi theo một cánh chim một chòm mây,

ta còn thấy một khát vọng tự do

 cũng như chất thép Hồ Chí Minh

 2/ Hai câu sau

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

Nếu hai câu thơ đầu cảnh vật hiện ra trong những nét chấm phá phần nào mang tính ước lệ cổ điển với chim muông mây trời thì đến hai câu sau là  Cảnh sinh hoạt gần gũi và ấm áp trên mặt đất.

Hiện ra ở trung tâm bài thơ lúc này là một thiếu nữ sơn thôn với công việc lao động bên bếp lửa gia đình. Một chất thơ khác một hơi thở trữ tình khác làm cho vẻ đẹp của buổi chiều thêm hài hoà phong phú, làm cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại hơn

Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang tắt dần, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả

*/ Thời gian , nhưng ai cũng biết,

_ Đất trời đã vào đêm, bóng tối ken dày muôn nơi.

 thời gian được vận động theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối xay ngô, quay mãi “Ma bao túc – Bao tức ma hoàn”, và đến khi cối xay ngô dừng lại thì “Lô dĩ hồng”, lò than đã rực hồng. Thực ra cái lò lửa ấy không phải đúng lúc đó mới bật sáng lên . Nó vẫn đỏ lên rồi, nhưng phải đến khi ánh trời tắt hẳn, núi rừng mù mịt thì tự nhiên con người ta chỉ nhìn thấy nơi đâu có ánh lửa. Và vì thế lúc xay ngô xong, trời tối hẳn nên mới nhìn thấy nó rực hồng lên Hình ảnh cô gái hiện ra bên bếp lò lửa đỏ đến với nhà thơ một cách tự nhiên như thế thôi. Và như thế, trong nguyên tác Bác không dùng chữ tối vậy mà ta vẫn nhận ra trời đổ tối. Bác dùng cái sáng để nói cái tối.

Bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối. Nhưng không phải là đêm tối lạnh lẽo âm u như cảm nhận của người xưa mà là một đêm tối ấm áp sáng bừng rực lửa

          Sự vận động của thời gian bất ngờ và khoẻ khoắn.

 Cùng với sự vận động về thời gian ta còn thấy sự vận động trong

*/ Tâm trạng của nhà thơ

Thực ra trong nhưng bài thơ vịnh cảnh chiều hôm xưa cũng thấp thoáng bóng người, cũng chứa đầy tâm trạng : Lom khom dưới núi tiều vài chú – Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Cảnh có con người mà thiếu vắng sự sống. Con người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của trời đất thiên nhiên. Còn trong bài thơ của Bác, trên nền cảnh của thiên nhiên rộng lớn, con người, sự sống của con người , ngọn lửa của con người bỗng trở thành tụ điểm, thành trung tâm toả ấm nóng và niềm vui ra tất cả.

_ Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc – lô dĩ hồng : có hình ảnh cô gái toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động, có cảnh làm ăn bình dị : xay ngô, có lò than đã rực hồng. Các chi tiết nghệ thuật ấy làm

                    hiện lên một mái ấm gia đình, một cảnh đời dân dã bình dị ấm áp

Và như vậy àKhông phải thiên nhiên làm chủ mà con người mới là chủ thể, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, con người đã tạo nên ánh sáng và hơi ấm cho con người, cho cảnh thiên nhiên. Chính cảnh xay ngô của thiếu nữ và lò than đã rực hồng kia đã àlàm vợi đi những đau khổ của người đi đày qua miền sơn cước xa lạ àNó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui hạnh phúc trong lao động của con người. Nói cách khác  Nó là điểm tựa tâm hồn cho một tù nhân Cộng Sản Hồ Chí Minh

Và cũng chính nhờ điểm tựa tâm hồn ấy mà Bác có thể cảm nhận  được một cuộc đời một con người dù là bình thường nhỏ bé nơi xóm núi heo hút trong hoàn cảnh ngặt nghèo của bản thân :

_ Sơn thôn thiếu nữ  Ma bao túc – bao túc ma hoàn lô dĩ hồng à Điệp ngữ vừa làm cho lời thơ giàu nhạc điệu, vừa diễn tả sự chuyển động vòng tròn nặng nề của cối xay ngô. Qua đó ta cảm nhận được sự trân trọng của nhà thơ trước đức tính cầm mẫn của thiếu nữ xóm núi

Bài thơ được sáng tác theo thơ Đường luật. Và Bác không chỉ tiếp thu tinh hoa của thơ Đường, mà còn nhà thơ còn đem vào hình thức chật hẹp của thơ Đường tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc. Điều đó được thể hiện ở câu kết của bài thơ

Bai thơ không khép lại trong sự mệt mỏi vội vã của cánh chim, trong sự uể oải cô đơn của chòm mây, trong sự nặng nề của cối xay ngô(_  ba câu thơ trên:  sự mệt mỏi, vội vã, nặng nề ) mà Bác khép lại bài thơ bằng một chữ  (_ “hồng”)

                                   Bác đã làm sáng rực toàn bộ bài thơ,

đã làm mất đi sự mệt mỏi uể oải, vội vã, sự nặng nề diễn tả ở trên, đã làm sáng rực cả khuôn mặt cô em xóm núi, nhuốm hồng lên cả bóng đêm bơỉ cái tình của  Bác.

Như vậy à tâm trạng của nhà thơ được vận động từ buồn đến vui từ lạnh lẽo cô đơn đến nóng ấm từ lụi tàn đến sự sống..

Qua hai câu thơ em nhận thấy nét đẹp  trong tâm hồn nhà thơ :đó là lòng lạc quan, yêu đời yêu người vô hạn của Bác

 

Trong cảnh ngộ đau khổ của riêng mình : Đằng sau lưng là một ngày đi đường vất vả, thường là đi từ rất sớm 53 cây số một ngày.áo mũ dầm mưa rách hết giầy. Trước mắt có cái gì chờ đón . Một xó nhà tù khác lạnh lẽo và đầy muỗi rệp, cái bụng lại đói meo. Đã thế cái tối lại sập xuống nơi núi rừng mà bước chân lưu đày của Người nơi đất khách tha hương vẫn chưa được dừng bước. Trong hoàn cảnh đó chúng ta vẫn có thể chờ đợi ở Bác một sự chạnh nghĩ đến mình, một thoáng thương thân, như một số bài thơ khác ta thường gặp. Và nếu tứ thơ có phát triển theo hướng đó thì cũng là phải lẽ và có thể cũng rất hay rất lớn. Nhưng giữa bao tăm tối dày đặc đó : Bác vẫn cảm thương với những người lao động nghèo khổ Mà cuộc đời họ quẩn quanh vất vả, nặng nề như vòng quay của chiếc cối xay ngô. Ma bao túc – Bao túc ma hoàn. Và cũng giữa bao nhiêu cực nhọc vất vả của riêng mình mà Bác vẫn cảm thấy vui, thấy rung động thấm thía niềm hạnh phúc yên ấm, bình dị rất đời thường của cô sơn nữ khi hoàn thành công việc và lò than đã rực hồng “cô em … rực hồng”

C/ KẾT LUẬN:

Chỉ bằng bốn nét vẽ : cảnh chim chiều, áng mây lơ lửng trôi nhè nhẹ, thiếu nữ và lò than, Bác để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc trong thơ ca VN. Nhưng có lẽ không chỉ có thế mà qua bài thơ ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào. Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ của Bác