Chúc mừng sinh nhật các con

 

 

chúc-mừng-SN-các-con

một chút lãng mạn đêm rằm

Hoa lá vườn nhà

DƯỚI-GIÀN-HOA-GIẤY

Nhớ mẹ !

Mùa vu lan đầu tiên chúng con xa mẹ. Giờ đây muốn báo hiếu với mẹ, cũng chỉ là mơ thôi. Điều duy nhất chúng con có thể làm là sống tốt. Chúng con cầu cho hương linh của mẹ và ba luôn bên nhau, hạnh phúc ở cõi phậtkhung-cửa-sổ-ME-VÀ-CONbông

Nhắn nhủ con gái yêu !

Bố về trong giấc mơ của Hương

BLD078167

Mười hai năm đèn sách
Khó nhọc biết bao nhiêu
Không có cha bên cạnh
Vất vả càng chông thêm

Nhưng con gái của cha
Ngoan, hiền và nhân hậu
Chẳng ngại khó bao giờ
Mười hai năm đèn sách
Luôn làm mẹ cha vui

Nay đến ngày hái trái
Thử thách càng cam go
Không có cha bên cạnh
Con ngậm ngùi biết bao

Nhưng con gái của cha
Ở phương trời xa ấy
Cha vẫn luôn dõi về
Hãy tự tin dấn bước
Dông bão rồi sẽ qua 

good-morning-new-97

 

Tổ ấm

skmbt_c36011112514450_0046

Cảm nhận của anh, chị về hình ảnh chuyến tàu đêm và lá cờ đỏ sao vàng

Cảm nhận của anh, chị về hình ảnh chuyến tàu đêm trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam và hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng ở cuối truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.

I/ MỞ BÀI:

_ Nếu sức chinh phục của hình tượng nghệ thuật là ở sự truyền cảm thì góp phần quyết định tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc ấy là nhờ chi tiết, hình ảnh nghệ thuật.

_ Đọc“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam ta không thể quên hình ảnh chuyến tàu đêm qua phố cũng như không khỏi ám ảnh bởi hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng ở cuối truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân .

II/ THÂN BÀI :  

(1/ Nói qua về chi tiết, hình ảnh nghệ thuật):

Chi tiết nghệ thuật truớc hết là những yếu tố về ngôn ngữ, lời văn được dùng để diễn tả nội dung tư tưởng của tác phẩm.. Nếu trong thơ, chi tiết có thể là một từ như: “Vèo”  (Thu điếu – Nguyễn Khuyến), một hình ảnh tu từ như: “Hồn tôi là một vườn hoa lá”  (Từ ấy – Tố Hữu) v.v… Thì trong tác phẩm tự thì chi tiết có thể là lời nói của nhân vật, bộ điệu, cử chỉ, nét mặt, đồ vật, cảnh tượng, hoặc có khi là một tình tiết của cốt truyện. 

2/ Cảm nhận

a/ Hình ảnh chuyến tàu đêm trong truyện ngắn Hai đứa trẻ

*/ Tóm tắt hoàn cảnh xuất hiện hình ảnh

Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một truyện ngắn trữ tình không có cốt truyện. Câu chuyện diễn ra theo bước chuyển của thời gian, xoay quanh tâm trạng của chị em Liên từ lúc chiều muộn đến đêm khuya. Khi phiên chợ đã vãn, bóng tối chưa sụp xuống phố huyện thì cuộc đời bóng tối đã dần hiện ra . Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ “tìm tòi” “ bất cứ cái gì có thể dùng được của các người bán hàng để lại”. Mẹ con chị Tí :Ngày thì mò cua bắt tép. Chập tối cho đến đêm dọn chõng hàng nước chè tươi. Bà cụ Thi đến mua rượu với tiếng cười khanh khách quen thuộc rồi lảo đảo lẫn vào bóng tối. Bác phở Siêu với chấm lửa nhỏ, vàng lơ lửng đi trong đêm tối mênh mông.Gia đình bác Xẩm không khách, không hát, không tiền.Chị em Liên vốn ở Hà Nội, nhưng vì cảnh nhà sa sút mới dọn về đây. Mẹ Liên mở một cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu, giao cho Liên trông coi. Đêm nào cũng vậy, hai chị em ra ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng trong bóng tối, vừa cố bán thêm hàng vừa quan sát những cảnh đời nơi phố huyện và cũng cố thức nhìn đoàn tầu qua phố – hoạt động cuối cùng của đêm khuya.

*/ Cảm nhận :

(_/ Tàu đến )Chỉ vậy thôi chăng ? Không ! Còn có một cái gì đó sâu hơn nhiều đối với chị em Liên và càng sâu sắc hơn đối với đám người khốn cùng ở phố huyện.Mỗi chuyến tầu từ Hà Nội sẽ qua phố huyện trong mấy phút. Mỗi đêm, hai đứa trẻ lại chờ đờ đợi. Hẳn các em phải chờ chuyến tầu ấy qua suốt một ngày buồn tẻ. Nỗi chờ đợi càng trở nên khắc khoải hơn khi đêm đổ xuống : đèn thắp sáng ở các nhà xung quanh, ngọn đèn leo lét nơi hàng nước nhà chị Tí, cái chấm lửa nhỏ của bác phở Siêu… đó chính là những điểm mốc, bước đi của thời gian đang đưa các em xích lại gần với chuyến tàu. Nên mặc dù đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai em vẫn cố gượng, và cho đén khi không thể chờ thêm được nữa, An vẫn còn dặn chị : tàu đến thì chị đánh thức em nhé. 

_ Họ khao khát chờ đón đoàn tầu như chờ đón một sự cố trọng đại. Bởi chính chuyến tầu đêm đã mang một thế giới khác đến gợi cho các em nhớ lại một vùng sáng rực rỡ lấp lánh có nhiều thứ quà ngon lạ, được uống những cốc nước lạnh xanh đỏ, mà giờ đây với các em đã là một thứ xa xỉ nhiều tiền không bao giờ mua được .

_ Đoàn tàu gợi cho các em nhớ lại một hồi ức đẹp. Hồi ức đó, ước mơ đó như trong truyện cổ tích nhưng chẳng khác gì một ảo ảnh, vụt chớp sáng rồi vụt qua ngay, xa dần, xa dần để rồi ngày mai lại xuất hiện, lại hi vọng mơ hồ.

_ Đoàn tàu còn là niềm an ủi nỗi khát khao mơ hồ, ước mơ không bao giờ tắt về một chút tươi sáng cho sự nghèo khổ hàng ngày.

Chuyến tàu qua, tiếng rầm rộ của đoàn tàu, tiếng ồn ào của hành khách, cả cái ánh đèn sáng trắng chiếu xuống đương làm phố huyện như bừng tình trong chốc lát

_ Chuyến tàu là niềm vui duy nhất giải toả tâm lí sau một ngày  mệt mỏi buồn chán.

_/ Nhưng rồi chuyến tầu cũng nhanh chóng xa dần, khuất dần. Phố huyện hết náo động, chỉ có bóng đêm lồng với bóng người đi về. Chị Tí sửa soạn đồ đạc. Bác phở Siêu gánh hàng vào làng, vợ chồng bác Xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ. Liên như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ cũng ngập dần vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm trong phố huyện tịch mịch và đầy bóng tối

Sự xuất hiện của chuyến tàu đêm càng làm nổi bật cuộc sống buồn tẻ tù đọng đáng thương nơi phố huyện.

Và hình ảnh ngọn đèn dầu chiếu sáng một vùng đất nhỏ xuất hiện cuối tác phẩm mang ý nghĩa: cuộc sống tăm tối trong hiện tại vẫn xâm chiếm tâm hồn chị, cuộc sống tươi sáng trong tương lai vẫn còn xa xôi. Điều đó đã gợi lên ở người đọc một niềm bâng khuâng thương cảm sâu sắc.

(_/ Ý nghĩa )Truyện ngỡ chẳng có gì để nói, ấy vậy mà Thạch Lam đã nói được rất nhiều, nhất là về tình trạng đời sống của những con người nhỏ bé trong xã hội. Thông qua hình ảnh chuyến tàu đêm qua phố huyện, nhà văn bày tỏ niềm cảm thông, xót thương sâu sắc trước cuộc sống tăm tối của người lao động, đồng thời thể hiện thái độ trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn và niềm khát khao của họ. Từ đó nhà văn muốn gửi đến người đọc thông điệp: Hãy quan tâm đến cuộc sống con người, giúp cho con người thoát khỏi sự tù túng, tăm tối; hãy giúp cho họ có một cuộc sống tươi sáng hơn thực tại mà họ đang sống.

b/ Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trong ý nghĩ của Tràng

*/Tóm tắt ngắn gọn hoàn cảnh xuất hiện hình ảnh

Tràng nhà nghèo, xấu xí, có nét dở hơi, dân ngụ cư lại sống với một mẹ già. Ai cũng tưởng Tràng ế vợ suốt đời. Ấy vậy mà đúng vào lúc ranh giới giữa cái sống và cái chết mong manh như sợi tóc, thì Tràng nhặt được vợ -  biểu trưng của hạnh phúc, chỉ bằng bốn bát bánh đúc và mấy câu nói đùa. Bà cụ Tứ đón nhận người đàn bà khốn khổ ấy làm con dâu trong nỗi đau đớn, sự thương cảm sâu sắc và nồi cháo cám . Tràng từ vô tình đùa cho vui nay đã thành sự thật. Lúc đầu anh cũng thoáng lo, rồi chậc kệ, còn bây giờ anh đã thấy mình đổi khác. Tràng đã có niềm vui, niềm tin, thấy mình đã thành người có trách nhiệm.  Dù đêm đầu tiên của đôi vợ chồng qua đi trong không khí khét lẹt của mùi chết chóc và tiếng khóc hờ ai oán, dù bữa ra mắt của họ chỉ là nồi cháo cám chát xít, nghẹ bứ nhưng Tràng đã thấy lá cờ đỏ sao vàng, thấy đoàn người đi phá kho thóc trên đê Sộp

*/ Cảm nhận:

_ Quên cả đói khát và chết chóc, Tràng  thoáng nghĩ đến lá cờ đỏ sao vàng. Nghĩa là amh đang hướng về cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng.

Một câu kết như thế chứa đựng bao nhiêu sức nặng về nội dung và nghệ thuật. Vắng bóng chi tiết này, thiên truyện sẽ sa vào lối kết cấu khép của văn học hiện thực phê phán. Sự bổ sung chi tiết này tạo ra kết cấu mở khiến tác phẩm thực sự vượt qua phạm trù của văn học 30 – 45 để bước tới phạm trù của văn học hiện đại. Nhờ thế thiên truyện đóng lại mà số phận mới vẫn tiếp tục mở ra. Cái “lá cờ đỏ” kia như tín hiệu của một sự đời đổi mới. Nhân vật Tràng tiếp tục vận động về phía niềm tin về phía cuộc sống. “Lá cờ đỏ” như gợi mở một sự thanh toán triệt để kiểu số phận  bế tắc như anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo… Chi tiết này không phải là ước mơ viển vông, một ảo tưởng cổ tích mà nó có cơ sở vững chắc từ trong hiện thức đời sống.Điều đó không chỉ phản ánh niềm tin của người nông dân đối với cách mạng mà còn cho thấy khả năng cách mạng của họ. Chúng ta tin rằng, Tràng sẽ có mặt trong đám người đói vùng lên, tham gia tổng khởi nghĩa cho đến ngày độc lập…

3/ So sánh:

_ Hai hình ảnh kết thúc tác phẩm trên đây thể hiện tài năng sáng tạo nghệ thuật độc đáo của các nhà văn, đồng thời là những thông điệp mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Với cách “kết thúc mở”, các nhà văn vừa gợi niềm bâng khuâng thương cảm, vừa gieo vào lòng người đọc một niềm tin về cuộc sống tương lai của người lao động và hiện thực tươi sáng của cách mạng.

_ Nếu hình ảnh kết thúc “Hai đứa trẻ” lay động niềm bâng khuâng thương cảm và dư vị sâu lắng của người đọc trước niềm khát khao mong ước có phần mơ hồ, xa xăm với hiện thực cuộc sống bấy giờ thì hình ảnh kết thúc “Vợ nhặt”, dù chưa rõ nét nhưng đã làm vang lên dư âm lạc quan cho câu chuyện, gợi người đọc suy tưởng, phán đoán về tương lai của người nông dân sau nạn đói 1945.

III/ KẾT LUẬN

Đất Nước qua “Việt Bắc” và đoạn trích “Đất Nước”

Đất Nước trong Việt Bắc (Tố Hữu) vàtrích đoạn Đât Nước (trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

I/ MỞ BÀI :

 Đất nước là đề tài quen thuộc trong thơ văn. Nhưng không vì thế mà nó trở nên đơn điệu nhàm chán. Mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi hoàn cảnh khác nhau, cũng như mỗi phong cách của một tác giả lại có cách thể hiện gương mặt Đất Nước khác nhau. Góp phần làm phong phú cho mảng đề tài này ta phải kể đến Việt Bắc của Tố Hữu) và trích đoạn Đât Nước (trường ca Mặt đường khát vọng ) của Nguyễn Khoa Điềm

II/ THÂN BÀI :

(1/ Đất Nước trong văn học xưa )

Mở đâu cho chương thơ của mình, Nguyễn khoa Điềm đã viết “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. Vâng ! Nhà thơ và cả chúng ta nữa, đều không biết đất nước có từ bao giờ, nhưng qua văn chương cổ, ta bắt gặp gương mặt đất nước từ một cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp:

                                       Gió đưa cành trúc la đà

                               Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

                                      Mịt mù khói tỏa ngàn sương

                              Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ (ca dao)

Hay một chợ quê yên bình

                              Lao xao chợ cá làng ngư phủ

                          Dẳng dỏi cầm ve lầu tịch dương  (Nguyễn Trãi)

Nhưng khi có giặc ngoại xâm, thì đất nước không chỉ oằn mình trong đau thương. Mà đất nước ấy còn rực lửa căm hờn : “Ngẫm thù lớn há đội trời chung, căm giặc nước thề không cùng sống” Để rồi lòng căm hờn ấy biến thành những trận đánh vang trời :

                             Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật

                              Miền Trà Lân trúc chẻ cho bay (Nguyễn Trãi)

Để mãi mãi đất nước là niềm tự hào của con cháu người Việt

               Từ Triệu Dinh Lý Trần bao đời gây nền Dộc lập

               Cùng Hán, Đường, Tống Nguyên xưng Đé một phương

               Tuy mạnh yếu tưng lúc khác nhau

               Song hào kiệt đời nào cũng có (Nguyễn Trãi)

(2/ Trong hai tác phẩm)

*/ (Giống )Hòa trong nguồn mạch chung của văn học dân tộc, Tố Hữu và Nguyễn Khoa Điểm cũng thấy Đất Nước mình hiện lên thật tươi đẹp. Trải qua những cơn binh lửa Đất Nước thật đau thương nhưng cũng thật anh hùng mà tình nghĩa.

_ Nếu Tố Hữu cảm nhận đất nước qua cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc :

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Thiên nhiên Việt Bắc như một sinh thể đang biến đổi trong từng khoảnh khắc ( Đông xuân hạ thu, sáng, hoa mơ nở trắng rừng, trưa ánh nắng vàng rực rỡ và khi đêm về, trăng dọi bàng bạc khắp nơi . Và trong thiên nhiên ấy con người là đoá hoa đẹp nhất có hương thơm ngọt ngào nhất. Họ là những con người Việt Bắc bình dị làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. Chính họ đã thắp sáng thiên nhiên làm cho thiên nhiên thêm rực rỡ.

_ Thì Nguyễn Khoa Điềm cũng cảm nhận Đất Nước là núi sông rừng bể bao la:

         Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hon núi bạc”

                      Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi.”

Đất Nước là  những danh lam thắng cảnh tươi đẹp kỳ thú như  Núi Bút non Nghiên, hòn Trống Mái, núi Vọng Phu, vịnh Hạ Long, sông Cửu Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm… vượt lên lối liệt kê tầm thường, Ông không chỉ chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của thiên nhiên mà còn nhìn ra trong đó tình nghĩa thuỷ chung của những con người làm nên gương mặt đất nước   

                          Và ở đâu trên khắp ruồng đồng gò bãi

                          Chẳng mang một dáng hình một ao ước ông cha

                          Ôi đất nước đi đâu ta cũng thấy

                           Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

*/ Nhưng khi giặc ngoại xâm tràn đến, Đất Nước đã phải trải qua những ngày tháng đau thương.

_Trong Việt Bắc, Tố Hữu không nói nhiều về nỗi đau mất mát. Bởi bài thơ vừa là khúc ca ân tình vừa là bài ca chiến thắng của một thời lịch sử. Nên quê hương cách mạng những ngày “trứng nước” ấy hiện lên với bao nỗi gian nan vất vả : “Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”; “Thương nhau chia củ sắn lùi, Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”và qua cả hình ảnh “người mẹ nắng cháy lưng – Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” …

_  Nguyễn khoa Điềm cũng cảm nhận nỗi đau thương ấy không phải ở một giai đoạn, một thời kỳ cụ thể  mà là suốt 4000 năm :

                                  Năm tháng nào cũng người người lớp lớp

                                  Con gái con trai bằng tuổi chúng ta

                                  Cần cù làm lụng

                                  Khi có giặc người con trai ra trận

                                  Người con gái trở về nuôi cái cùng con

                                  Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Trong lịch sử dựng nước của mình, dân tộc Việt Nam có thời kỳ nào không phải chống ngoại xâm, có thế hệ nào không phải trải qua nỗi đau của chiến tranh : con mất cha, vợ mất chồng; những người vợ, người mẹ vò võ một mình nuôi con, mòn mỏi chờ người thân trở về.

_ Trước núi đau thương chồng chất mà kẻ thù gây ra cho dân tộc, trước sự sống còn của vận mệnh Đất nước, Tố Hữu cảm nhận được cả đất trời cùng đồng lòng vùng lên đánh giặc

                           Nhớ khi giặc đến giặc lùng

                   Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

                           Núi giăng thành lũy sắt dày

                   Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

                            Mênh mông bốn mặt sương mù

                   Đất trời trời ta cả chiến khu một lòng

Biện pháp nhân cách hóa, kết hợp với các động từ mạnh, các từ chỉ không gian rộng lớn, Tố Hữu đã nêu bật được sức mạnh trời không dung đất không tha đối với kẻ thù

_Nguyễn Khoa Điềm cũng cảm nhận lòng căm thù, sức mạnh vùng lên của dân tộc qua “bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuối”, “Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”,

                        Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

                        Có nội thù thì cùng nhau đánh bại

Câu thơ giản dị như lời kể, nhưng Nguyễn Khoa Điềm đã nêu bật được sức mạnh tất thắng của ta

_  Bằng cảm quan hiện thực ấy, Tố Hữu thấy sức mạnh của Đất nước qua những con đường  ra trận:

                                    Những đường Việt Bắc của ta

                              Đêm đêm rầm rập như là đất rung

                                    Quân đi điệp điệp trùng trùng

                              Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan

                                    Dâm công đỏ đuốc từng đoàn

                              Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

                                    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

                              Đèn pha bật sang như ngày mai lên

 

Một loạt từ láy kết hợp với biện pháp so sánh cường điệu, hình ảnh thơ vừa thực vừa lãng mạn, Tố Hữu không chỉ gợi ra  gợi ra thật hay, thật hào hùng âm vang, sức mạnh của  cuộc kháng chiến mà còn làm cho  hình ảnh  đất nước trong khỏng chiến, bỗng trở nên rực sáng và hào hùng

_ Soi chiếu vào lịch sử, qua “bốn nghìn năm Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm cũng thấy sức mạnh của dân tộc ở “bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi”

                 Họ sống và chết

                 Giản dị và bình tâm

                 Không ai nhớ mặt đặt tên

                 Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Đó là mạch ngầm truyền thống, là ý chí giống nòi, chảy từ quá khứ đến thực tại và tương lai, tạo nên sức mạnh bốn nghìn năm lịch sử mà không kẻ thù nào có thể đánh bại

*/ Nói đến Đất Nước là nói nhân dân, những con người đã đem máu mồ hôi và nước mắt để sáng tạo lịch sử và đất nước.

_ Trong mạch cảm hứng ấy,  Tố Hữu cảm nhận được những người góp phần làm nên “Quê hương Cách mạng”, “dựng nên Cộng hòa”, đó là những người mẹ địu con lên rẫy, những người đan nón, những người đi rừng “đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”, và cả những cô em gái hái măng một mình. Họ là nhưng con  người nghèo khổ nhưng “đậm đà lòng son”, thủy chung tình nghĩa, đồng cam cộng khổ với kháng chiến và Cách mạng. Họ chính là chủ nhân anh hùng của đất nước anh hùng. Chính họ là những người ân nghĩa thủy chung hơn ai hết

                   _  Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

                   _  Mười lăm năm ấy ai quên

                 Quê hương cách mạng dựng lên cộng hòa

_ Cùng  chung cảm hứng như thế, Nguyễn Khoa Điềm thấy “Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân”. Nhân dân có thể là anh, là em, là người vợ nhớ chồng, là người học trò nghèo, là Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm, là bốn nghìn lớp người “không ai nhớ mặt đặt tên. Họ là tập thể những anh hùng vô danh và chính họ làm nên Đất Nước muôn đời Và  họ không chỉ dũng cảm trong chiến đấu mà còn nghĩa tình biết bao :

                                 Hằng năm ăn đâu làm đâu

                                 Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

(3/ khác )Yêu quê hương đất nước, đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của nhân dân ta. Nhưng tùy vào hoàn cảnh thời đại, tùy vào tình huống cụ thể, vào điểm nhìn của mỗi cá nhân mà nội dung này có những biểu hiện khác nhau với những sắc thái khác nhau

 */   Việt Bắcđược làm vào tháng 10.1954, khi TW Đảng và Chính phủ cùng cán bộ chiến sĩ rời chiến khu để về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Nên với Tố Hữu, Đất nước là quê hương cách mạng, là ân tình của những con người kháng chiến đối với quê hương Cách mạng, với nhân dân . Đất nước còn là lòng kính yêu , niềm tự hào tin tưởng vào Bác Hồ vào Đảng :

                  Mình về với Bác đường xuôi

            Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

                  Nhớ Ông Cụ mắt sang ngời

             Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường…

Những tình cảm này đan dệt nhuần nhụy với nhau, mang đến cho bài thơ một sắc thái mới : Trữ tình chính trị. Và cảm hứng này là nguồn thơ chủ yếu của Tố Hữu. Và nhà thơ đã thể hiện nó một cách tự nhiên bằng một giọng tâm tình ngọt ngào. Cả bài thơ được cấu tạo theo lối đối đáp giao duyên (mình – ta) của ca dao dân ca: Đối đáp giữa hai người yêu thương nhau, tình nghĩa mặn nồng nay phải chia tay nhau kẻ đi người ở. Cả bài thơ tràn ngập nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong kẻ ở và người đi trong câu hỏi và trong cả lời đáp. Nỗi nhớ cứ trở đi trở lại cồn cào da diết . Toàn bộ bài thơ là lời nhắc nhở ân tình : Xin đừng quên tấm lòng son đã hiến dâng tất cả cho Cách mạng; xin đừng quên những ngày gian khổ Hãy biết giữ vững truyền thống cách mạng trong bất kỳ hoàn cảnh nào : “Phố đông còn nhớ bản làng – Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng” ? Hơn cả lời nhắc nhở còn là tấm lòng thành kính biết ơn và tin tưởng vào Đảng, Bác và Cách mạng

Tố Hữu nhắc nhở mình cũng là nhắc nhở mọi người . Và những tình cảm chính trị này đến với họ như những tiếng ru ngọt ngào sâu lắng. Vì thế quê hương cách mạng Việt Bắc đã trở thành quê chung của mỗi người Việt Nam yêu nước

 */   Còn đoạn trích Đất nước nằm ở phần đầu của chương V, chương trụ cột của trường ca Mặt đường khát vọng, sáng tác năm 1971 là năm mà cuộc chiến tranh chống Mĩ  ở miền Nam đang vào thời kì ác liệt. Tác giả viết trường ca này nhằm thức tỉnh thế hệ trẻ thành thị miền Nam ở vùng tạm chiếm, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, ý thức được sứ mệnh của mình đối với dân tộc trong cuộc đấu tranh thiêng liêng bảo vệ đất nước. Vì thế nhà thơ đã tìm cho mình một cách nói riêng trong thơ :

        Để đất nước này là Đất Nước Nhân dân

        Đất Nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại.

 Ông đã dùng một đất nước dân gian để nói lên tư tưởng lớn đó. Bởi dân gian chính là dân tộc, lại là cái phần tiêu biểu, đậm đà nhất dễ nhận ra nhất của dân tộc. Hơn nữa với hình ảnh một đất nước dân gian thơ mộng trữ tình từ xa xưa vọng về sẽ trở nên quen thuộc, gần gũi hơn với mọi người và vì thế cũng dễ cảm dễ hiểu dễ nhận ra cái tư tưởng Đất Nước của Nhân dân, dễ thức tỉnh mọi người (đúng như dụng ý của tác giả). Và vì thế, với cái nhìn tổng thể nhiều chiều, soi chiếu trên nhiều bình diện, Nguyễn Khoa Điềm không chỉ phát hiện ra Đất Nước băt nguồn từ những gì gần gũi giản dị thân thiết trong đời sống mỗi con người.

        Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

        Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngay xưa…”

                                                                                     mẹ thường hay kể

        Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

        Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre

                                                                                mà đánh giặc

Đất nước có trong anh và em; “Đất Nước là máu xương của mình”; Đất Nước là do nhân dân sáng tạo:

         Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

         Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Đất nước do “bốn nghìn lớp người” chiến đấu bảo vệ :

           Họ đã sống và chết

           Giản dị và bình tâm

           Không ai nhớ mặt đặt tên

           Nhưng họ đã làm ra đất nước

Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử Đất Nước là một cuộc chạy đua tiếp sức không biết mệt mỏi của bao thế hệ người Việt Nam. Cái mà họ truyền cho nhau, tiếp sức cho nhau đó là ngọn đuốc sự sống của dân tộc Việt Nam. Mỗi thế hệ chạy một quãng đường và trao lại cho thế hệ kế tiếp. Cứ như thế, đất nước được hình thành và phát triển bởi vô số những con người vô danh. Chính họ là người gìn giữ và lưu truyền cho các thế hệ Việt Nam mọi giá trị văn hoá vật chất cũng như tinh thần

                 Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

                 Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi

                 Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

                 Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân…

                 Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Vâng ! Suốt bốn nghìn năm lịch sử, không ai còn nhớ mặt , nhớ tên những người anh hùng vô danh. Nhưng chính họ đã làm nên, lưu giữ và truyền lại cho chúng ta những gì họ có. Bốn nghìn lớp người ấy đã làm nên tất cả : Từ hạt lúa với nền văn minh lúa nước, ngọn lửa tạo nên bước tiến của loài người, đến những của cải tinh thần quý báu như phong tục tập quán, giọng nói cha ông, tên làng tên xã…Họ đã truyền lại tất cả, để đất nước này mãi là đất nước của nhân dân

Và với cách nhìn mới mẻ ấy, nhà thơ giúp chúng ta thấy được sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh chung cuả cộng đồng của đất nước. Từ đó nhà thơ đặt ra trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với đất nước

                      Em ơi em Đất nước là máu xương của mình

                      Phảỉ biết gắn bó và san sẻ

                      Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

                      Làm nên đất nước muôn đời

Để làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của nhân dân, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng đậm đặc chất liệu dân gian. Ông đã chọn lọc những cái tiêu biểu nhất, có ý nghĩa nhất. Và quan trọng hơn là nhà thơ đã chế biến nó, vận dụng nó một cách linh hoạt sang tạo vào lời thơ của mình. Vì vậy , những yếu tố của văn hóa, văn học dân gian ở đây đã hòa nhập khá tự nhiên với cách diễn đạt và tư duy hiện đại, tạo ra mầu sắc thẩm mĩ vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Đó chính là đóng góp quan trọng của giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam

III/ KẾT LUẬN :

Hai bài thơ hai phong cách hai điểm nhìn khác nhau: Một quê hương cách mạng tình nghĩa, anh hùng; một Đất Nước của Nhân Dân của ca dao thần thoại. Nhưng cả hai bải thơ đều thể hiện sinh động cảm hứng  về một đất nước giàu đẹp, một đất nước gian nan vất vả, nhưng cũng là một đất nước của nhân dân anh hùng tình nghĩa. Những nét chung và riêng như ta đã phân tích ở trên làm cho Đất nước trong thơ trở nên phong phú đa dạng lấp lánh sắc màu hơn.và vì thế nó càng hấp dẫn người đọc. Bởi nó đã chạm đến phần tình cảm thiêng liêng nhất của mỗi con người

 

Chủ nghĩa anh hùng trong “Rừng xà nu” và “Những đứa con trong gia đình”

I/ MỞ BÀI

Phát triển trong điều kiện của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học 1945 – 1975 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình. Đó là cổ vũ, ca ngợi chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của những con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Và trong những tác giả tác phẩm tiêu biểu như thế, ta không thể không kể đến Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

II/ THÂN BÀI :

1/ Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong văn học (?)

đó là sự thể hiện của lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc sâu sắc, tinh thần chiến đấu bất khuất chống lại kẻ thù xâm lược để bảo vệ tổ quốc của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là sự trung thành với lí tưởng cách mạng được thử thách trong những hòan cảnh khốc liệt, qua đó bộc lộ được vẻ đẹp của phẩm chất anh hùng có tính chất tiêu biểu cho cả dân tộc

2/ Vì sao trong văn học thời kỳ này cũng như trong hai tác phẩm  lại phản ánh Chủ nghĩa anh hùng cách mạng (?)

*/ Trong hai cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại ấy đã sản sinh rất nhiều anh hùng, nhiều kỳ tích. Sáng tác văn học để phản ánh những kỳ tích đó vừa là yêu cầu đồng thời cũng là nguyện vọng của những văn nghệ sĩ yêu nước

*/ Cả hai tác giả Nguyễn Trung Thành và Nguyễn Thi đều gắn bó với cuộc kháng chiến chống Mĩ. Họ đều là những nhà văn chiến sĩ ở tuyến đầu máu lửa . Vì thế những sáng tác của họ mang hơi thở nóng hổi của cuộc chiến đấu với những hình tượng nhân vật sinh động, bước vào văn học từ thực tế máu lửa ấy.

*/ Hai truyện ngắn “Rừng xà nu” ( 1965), “Những đứa con trong gia đình” (1966) đều ra đời trong giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi đế quốc Mĩ đổ quân vào miền Nam nước ta, dân tộc ta. Đứng trước trận chiến một mất một còn để bảo vệ độc lập tự do, bảo vệ quyền sống đó, các nhà văn chiên sĩ của chúng ta không thể không phản ánh, ca ngợi những tâm gương anh hung, những kỳ tích của nhân dân. Vì thế  văn học thời kỳ này nói chung cũng như Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành và Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi nói riêng đều thấm đẫm Chủ nghĩa anh hùng cách mạng

3/ Chủ nghĩa anh hùng cách mạng thể hiện như thế nào trong hai truyện ngắn?

(a/ Tóm lược 2 tác phẩm :)

*/ Rừng xà nu. được Nguyễn Trung Thành sáng tác năm 1965 – thời điểm mà của nước sục sôi đánh Mỹ. Tác phẩm cất lên như một bản anh hùng ca về tinh thần bất khuất kiên cường của đồng bào Tây Nguyên nói riêng.của dân tộc Việt Nam nói chung. Truyện kể về cuộc đời Tnú, một người con trai làng Xô Man đi lực lượng đã ba năm năy được về phép thăm làng. Lồng trong tác phẩm là câu chuyện nổi dậy của dân làng Xô Man. Làng nằm trong tầm đại bác của giặc. Và cũng như dân làng Xô Man, rừng xà nu đau thương nhưng vẫn kiên cường vươn lên. Nhân dịp Tnú về thăm làng và nghỉ tại nhà cụ Mết, đêm đó, cụ kể cho dân làng nghe về cuộc đời của Tnú : Anh cùng Mai đi nuôi cán bộ. làm liên lạc, bị địch bắt đi tù. Thoát tù, anh trở về cùng dân làng chuẩn bị chiến đấu. Được tin này, giặc kéo về làng. Chúng bắt và tra tấn dã man vợ con anh. Với đôi bàn tay không Tnú không cứu được vợ con, bản thân anh bị bắt, tẩm dầu xà nu đốt mười đầu ngón tay. Trước cảnh dã man này, dân làng đã nhất tề vùng lên giết giặc. Cụ Mết kêu gọi mọi người tự trang bị vũ khí để chiến đấu. Cũng trong đêm ấy Tnú kể cho dân làng nghe chuyện anh đã bóp chết tên chỉ huy đồn địch bằg đôi bàn tay tàn tật của mình. Sáng hôm sau Tnú lại ra đi. Cụ Mết và Dít đưa anh đến cửa rừng xà nu gần con nước lớn. Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy tớichân trời.

*/ Nếu Nguyên Trung Thành kể về một buôn làng Tây Nguyên, thì Nguyễn Thi với Những đứa con trong gia đình(1966), lại chủ yếu dựa trên dòng hồi tưởng đứt nối của nhân vật Việt để làm sống dậy truyền thống đánh giặc của một gia đình Nam Bộ.

Tư Việt bị thương phải nằm bệnh viện. Anh viết thư cho chị Chiến. nhớ lại hồi ở nhà cùng chị đánh tàu Mĩ trên sông Định Thủy, nhớ ngày đầu nhập ngũ, nhớ trận đo lê dữ đội trong rừng cao su. Việt dùng thủ pháo tiêu diệt được một chiếc xe bọc thép, nhưng anh bị thương và ngất đi lạc đồng đội giữa chiến trường. Tỉnh dậy lần thứ nhất, tuy bị thương khắp người, mắt lại không nhìn thấy gì nhưng ãnh vẫn ráng hết sức đi tìm đồng đội. Vì thế anh lại ngất đi. Tỉnh dậy lần hai, trời lất phất mưa, ếch nhái kêu dậy lên, làm anh nhớ lại chuyện đi bắt ếch, rồi hai chi em tranh nhau, chú Năm phải sang phân xử. Và chị Chiến vào giờ cũng nhường em. Để công bằng, chú Năm ghi công của cả hai chị em vào cuốn sổ của gia đìnhvà cả các thành viên trong gia đình tham gia đánh Mĩ. Tiếng trực thăng đưa Việt về thực tại với cảm giác đau đớn… Lần thứ ba tỉnh dậy, tiếng súng của kẻ thù vẫn nổ. Xe bọc thép chạy mỗi lúc một gần, pháo nổ càng gần hơn. mắt không nhìn rõ được vât gì, anh nghĩ tới hoàn cảnh nếu không may bị địch bắt và giết chết. Việt không sợ chết những lại buồn vì không được sống chung với anh Tánh, không còn được đi bộ đội. Lần thứ tư tỉnh dậy, Việt vẫn nghe tiếng súng từ xa vọng lại. ý nghĩ trở về sâu sắc nhất là ngày đầu nhập ngũ, lúc đó Việt mới mười tám và chị Chiến mười chín. Hai chị em tranh nhau đi bộ đội để trả thù cho má., rồi bàn bạc đem bàn thờ má qua gửi nhà chú Năm. Câu chuyện kết thúc khi Việt gặp lại đơn vị và được đưa đi điều trị chu đáo. Việt lại nhớ đến chị Chiến với biết bao những tình cảm xúc động nhớ thương.

Qua nội dung của hai tác phẩm trên, ta thấy

b/ Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trước tiên thể hiện ở những nhân vật mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, từ đau thương trỗi dậy để chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược.

_Họ đều là những người con được sinh ra từ truyền thống bất khuất của gia đình, của quê hương, của dân tộc. Tnú là người con của làng Xô Man, nơi từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo vệ cán bộ. Trong khi đó Chiến và Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nứơc, căm thù giặc. Cha là cán bộ cách mạng, má là người phụ nữ Nam bộ kiên cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lí tưởng của cha mẹ.

_ Cùng với đó, những đau thương, mất mát do kẻ thù gây ra cho họ đều tiêu biểu cho đau thương mất mát của cả dân tộc. Tnú thì chứng kiến cảnh vợ con bị kẻ thù tra tấn đến chết, bản thân bị giặc đốt mười đầu ngón tay. Chiến và Việt lại chứng kiến cái chết của ba má: ba bị chặt đầu, má chết vì đạn giặc.

_ Những đau thương đó hun đúc tinh thần chiến đấu, lòng căm thù giặc sâu sắc của con người Việt Nam. Biến đau thương thành sức mạnh chiến đấu cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.Tnú lên đường đi lực lượng dù mỗi ngón tay mất đi một đốt, Chiến và Việt cùng vào bộ đội, coi việc đánh giặc trả nợ nước thù nhà là lẽ sống.

_ Họ chiến đấu bởi sức mạnh của lòng căm thù giặc, cũng là bởi sức mạnh của tình yêu thương, vì với họ, chỉ có cầm vũ khí đứng lên, ta mới có thể bảo vệ được những gì thiêng liêng nhất, bảo vệ tình yêu và sự sống. Chân lí đó đã được minh chứng qua số phận và con đường cách mạng của những người dân Nam Bộ trong hai tác phẩm trên, chân lí đó cũng được rút ra từ thực tế đau thương mất mát nên nó càng có giá trị, càng phải khắc sâu vào lòng người.

_Tuy đi lên từ những đau thương, mất mác nhưng họ đều mang phẩm chất anh hùng, bất khuất, là những con người Việt Nam dũng cảm trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm.Tnú từ nhỏ đã gan dạ, đi liên lạc bị giặc bắt được, tra tấn dã man mà vẫn một mực không khai. Anh vượt ngục trở về, lại là người lãnh đạo thanh niên làng Xô Man chống giặc, bị đốt mười ngón tay vẫn không kêu rên trước mặt kẻ thù. Ở Tnú toát lên vẻ đẹp của người anh hùng trong sử thi Tây Nguyên và vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại chống Mĩ. Việt thì bị thương trong trận đánh lại lạc mất đơn vị, vẫn chắc tay súng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù. Đối với chị, Việt ngây thơ, nhỏ bé. Còn trước kẻ thù, Việt vụt lớn lên, chững chạc trong tư thế người anh hùng.

b/ Không dừng lại tại đó, chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn thể hiện ở sức sống bất diệt của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu ác liệt.Dân làng Xô Man như rừng cây xà nu mặc dù trong rừng hàng vạn cây, không cây nào không bị thương, nhưng vẫn ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng, một cây ngã xuống thì bốn năm cây con mọc lên. Mai hi sinh thì Dít vươn lên thay thế, Heng như cây xà nu non hứa hẹn trở thành cây xà nu cường tráng tiếp nối cha anh. Tầng tầng, lớp lớp những người dân Xô Man Tây Nguyên tiếp nối đứng lên kiên cường chiến đấu với quân thù để bảo vệ quê hương đất nước mình. Về phần Việt và Chiến, ông nội bị giặc giết, cha trở thành cán bộ Việt Minh rồi bị giết hại dã man, má tiếp tục nuôi con và chiến đấu, đến khi má ngã xuống thì anh em Chiến và Việt lại tiếp nối con đường chiến đấu, thực hiện lí tưởng của gia đình, và trong dòng sông truyền thống của gia đình, họ là khúc sông sau nên hứa hẹn đi xa hơn cả thế hệ trước. Sự tiếp nối và kế thừa đó đã làm nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam thời chống Mĩ, là sức sống bất diệt giúp họ vượt qua bao đau thương do kẻ thù gây ra để tiếp tục chiến đấu và chiến thắng.

Tóm lại, các nhân vật của hai truyện ngắn đều đã vượt lên nỗi đau và bi kịch cá nhân để sống có ích cho đất nước. Những đau thương của họ cũng chính là đau thương của dân tộc trong những năm tháng thương đau của chiến tranh. Tinh thần quả cảm, kiên cường của họ cũng chính là tinh thần của cả dân tộc Việt Nam, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

III/ KẾT LUẬN :

Hai tác phẩm, hai bản anh hùng ca thời đại đánh Mĩ, đã khắc sâu được cuộc chiến đấu của dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược hết sức ác liệt và gay go. Qua đó các tác giả cũng ngợi ca phẩm chất anh hùng của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, là những con người tiêu biểu cho cộng đồng về lí tưởng và phẩm chất, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu hi sinh.

 

 

 

Tương tư của Nguyễn Bính

I/ MỞ BÀI

Nguyễn Bính là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới, cũng như của thơ ca hiện đại Việt Nam. Trong trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ ca lãng mạn Pháp thì Nguyễn Bính lại tìm về với văn hoá dân gian. Cùng với một số nhà thơ khác, Nguyễn Bính đã đóng góp cho thơ mới một  giọng  điệu riêng, đậm hồn quê. Bài thơ “Tương tư” là một minh chứng cho tính chân quê đó

II/ THÂN BÀI :

(1/ Xuất xứ chủ đề)     “ Tương tư” (1939) rút trong tập Lỡ bước sang ngang, tập thơ nổi tiếng và tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính. Qua chuyện tương tư, bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ với quê hương, ở cái hồn quê  mộc  mạc thấm đẫm trong thi liệu, cảm xúc, ở cách thể hiện đậm phong vị  dân  gian. Âm điệu, ngôn ngữ, hình ảnh, thể thơ đều rất gần gũi với ca  dao

Cảm xúc chủ đạo cả bài thơ được thể hiện ngay từ nhan đề của tác phẩm : “Tương tư’. Nhưng cung bậc tâm trạng này không chỉ đơn thuần là nhớ nhung. Mà nỗi tương tư trong bài thơ là một phức hợp các cảm xúc khác nhau, với những diễn biến không hề xuôi chiều. Bắt đầu là sự nhớ nhung (khổ 1), đến than thở, rồi nôn nao mơ tưởng (ba khổ tiếp theo), để cuối cùng là những ước vọng xa xôi (khổ cuối). Tất cả diễn biến theo lối xen lồng và chuyển hóa nhau rất tự nhiên, chân thực.

(2, Cảm nhận) :

Khi tình yêu còn e ấp, chưa dám tỏ bày (tình yêu đơn phương), thì tương tư là một cảm xúc, một căn bệnh khó lòng tránh khỏi. Tâm trạng của chàng trai trong bai thơ là như thế.

a/ Cũng như biết bao tâm hồn đã và đang tương tư khác, nỗi lòng của chàng trai cũng được bắt đầu bằng sự mong nhớ

 “Thôn Đòai ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người”.

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

 Không gian của nỗi tương tư ấy là không gian làng quê. Vì thế tâm trạng tương tư cũng được thể hiện theo kiểu rất thôn quê. Nó cụ thể chứ không mông lung như chàng trai thị thành Xuân Diệu :

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi…

(Nhị hồ)

 Nhưng tại sao ở đây không phải là anh nhớ em hay tôi nhớ nàng mà là “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Cách nói (hoán dụ – mượn hình ảnh hai thôn để diễn tả thay cho hai cá thể đang yêu) này vừa khiến cho câu thơ mang phong vị dân gian vừa có tính hàm súc. Dù còn e ấp, thẹn thùng chưa dám nói ra, nhưng nỗi nhớ của chàng trai da diết lắm, nó như thấm vào cả cảnh vật và lan toả khắp không gian. Thêm vào đó, điệp từ “một người” được ngăn cách bằng thành ngữ “chín nhớ mười mong” vừa như một nhịp cầu mà cũng vừa như tấm bình phong ngăn trở của mối tình đậm đà buổi sơ khai này vậy. Từ đó, tác giả đi đến một kết luận, một sự đúc kết sâu sắc:

“Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Nếu giời đất có nắng có mưa thì tôi yêu nàng, tôi mắc bệnh tương tư cũng là lẽ thường tình, hợp qui luật. Nhà thơ đem “Cái tôi”cá nhân sánh với trời đất, vũ trụ. Để từ đó khẳng định :Tính yêu của tôi, bệnh tương tư của tôi có trời bảo chứng. Trời thế nào, tôi thế ấy. Sự xuất hiện cuả một “cái tôi” như thế là hết sức độc đáo mới mẻ trong văn học Lãng Mạn 30-45

Vì  yêu mà không dám nói ra với người mình yêu nên nỗi nhớ càng  trĩu nặng và tình cảm càng mãnh liệt. Tâm trạng chàng trai quê không dừng lại ở sự nhớ mong mà nó được nâng lên một bậc khác,

b/ đó là sự mong ngóng, đợi chờ, muốn nhìn thấy người mình yêu.

*/ Tâm trạng đó được bộc lộ rõ ràng qua bốn câu thơ tiếp theo:

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng” 

   Hai câu đầu cứ như có một ý gì đó tự hỏi mà cũng có một ý gì đó hờn trách nhẹ nhàng. “Hai thôn chung lại một làng”, gấn thế cơ mà, nhưng sao “bên ấy” chẳng sang chơi, sao cứ  hờ hững mãi, để cho “bên này” phải “ra ngẩn vào ngơ”, phải tương tư khổ sở thế này.“Ngày qua ngày lại qua ngày”, thời gian cứ thế trôi đi, “bên này” chờ đợi nhớ mong đã lâu lắm rồi, đến nỗi “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng” rồi “bên ấy” có biết hay không ? Nhà thơ không phải là cách xưng hô mình – ta quen thuộc, mà “bên ấy – bên này” thật kín đáo tế nhị nhưng cũng rất “chân quê” Đối với những tâm hồn đang yêu đương cháy bỏng thì một ngày hay thậm chí một giờ một khắc không gặp người mình yêu cũng dài như mấy năm vậy

                                                                            Sâu đong càng lắc càng đầy

                                                                         Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. (Nguyễn Du)

Sự trôi chảy của thời gian được tác giả miêu tả bằng điệp ngữ “qua ngày” cùng từ “lại”, kết hợp với hình ảnh “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. Nguyễn Bính đã không chỉ cụ thể hóa bước đi chậm chạp, nặng nề của thời gian,  mà qua đó ông còn cho ta thấy được tâm trạng héo mòn, khô úa vì đợi chờ của nhân vật trữ tình. Cái tâm trạng chờ mong, nóng lòng, bồn chồn đến “ra ngẩn vào ngơ” này ta cũng từng gặp trong ca dao dân ca :

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai

Khăn chùi nước mắt”

Nhưng sự hờn giận của chàng trai có vẻ hơi vô lí. Bởi theo quan niệm truyền thống thì “trâu phải đi tìm cọc” chứ ai lại “cọc đi tìm trâu”, chàng phải sang chứ sao lại trách cô gái không sang. Trong trường hợp này, chàng trai lại đóng vai thụ động ngồi chờ đợi . Thực ra đó chính là cái cớ  nhà thơ tạo ra để chàng trai có dịp bộc bạch tâm tư của mình. Hơn nữa, lối trách móc này không phải vì ghét, không giống như sự qui kết trách nhiệm, đỗ lỗi thông thường. Mà trách vì yêu. Do quá mong nhớ, bị nỗi nhớ mong giày vò người trong cuộc dễ tưởng mình bị hờ hững, nên sinh ra “hờn ngược, trách xuôi” vậy thôi, “trách yêu”cũng là một cách bộc bạch tình cảm

*/  Nỗi tương tư cùng lời hờn trách cứ da diết và sâu đậm  hơn theo  dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành.

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Dằn vặt là tự làm khổ mình, biết vậy nhưng nhân vật tôi không sao thoát ra được, cứ căn vặn về lý do khiến chàng phải đợi chờ:  rằng đâu có cách trở đò giang, đâu phải không có đường sang, khoảng cách “bên ấy”  “bên này” cũng chỉ có “một đầu đình”? Câu hỏi như tan vào không gian mênh mông, bởi “ có xa xôi mấy mà tình xa xôi…”. Cái tình của “bên ấy” đâu có hướng sang “bên này”. Vì thế chàng trai có tự vấn mình bao nhiêu đi chăng nữa cũng là vô vọng. Nhịp điệu thơ da diết kết hợp những hình ảnh rất gần gũi và quen thuộc với văn hoá làng quê của người Việt (con đò, mái đình), nhà thơ không chỉ tạo nên không gian làng quê yên bình, lãng mạn, thích hợp để  chàng  trai giãi bày tâm trạng tương tư. Mà ông cònthể hiện rất tinh tế trạng thái tâm lí của  kẻ  đang yêu mà chưa nhận được lời đáp lại.

*/ Nỗi nhớ thương không người  giãi  bày đã làm cho nhân vật trữ tình càng chìm sâu trong nỗi tương tư

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho !

Bao giờ bến mới gặp đò ?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Một ngày không gặp thì nhớ mong, hai ngày không gặp thì bồn chồn, lo lắng, ba ngày không gặp thì hờn mát, trách yêu, rồi  nhiều ngày nữa không gặp thì nỗi tương tư giờ đây đã chuyển sang một cung bậc cảm xúc cao hơn, phức tạp hơn: đó là sự buồn bã, không ăn, không ngủ. “Tương tư thức mấy đêm rồi”. Nhưng dù vậy thì “Biết cho ai, hỏi ai người biết cho”? Đại  từ phiếm chỉ ai lặp lại hai lần trong một câu thơ càng làm tăng  nỗi niềm tha thiết của kẻ đa tình. Mòn mỏi chờ đợi cùng nỗi niềm tương tư giờ đây trở thành sự mơ tưởng,

Bao giờ bến mới gặp đò ?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau ?

Hai câu thơ, hai câu hỏi  đầy trăn trở, nhưng đằng sau nỗi lòng ấy là sự mơ tưởng của chàng trai về một ngày gặp gỡ của hai ta.Và nếu hình ảnh “bến – đò” mang đậm tính chất truyền thống , thì hình ảnh “hoa khuê các – bướm giang hồ” lại rất đặc trưng cho phong cách các nhà thơ mới. Cặp hình ảnh(ẩn dụ) này không chỉ sự kết hợp  nhuần  nhuyễn giữa cái “chân quê” với nét mới và lãng mạn trong phong cách thơ  Nguyễn  Bính. Mà qua đó nhà thơ đã diễn tả sinh động tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đến đây, tâm trạng chàng trai đang diễn biến ngày càng phức tạp và đa cung bậc hơn từ nhớ mong, chờ đợi, bồn chồn rồi đến hờn trách và tự vấn bản thân để từ đó nâng lên thành sự mong ước gặp gỡ. Vì thế hệ thống những hình ảnh được tác giả sử dụng đã ngày một đa dạng và phong phú hơn. Nhưng không dừng lại ở nỗi ước mong được gặp nhau mà giờ đây,

c/  chàng trai muốn được gắn kết, giao hòa và được kết tóc se duyên cùng người “bên ấy” ở “thôn Đông”.

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?

 Khổ thơ thơ mang hình thức của một bài ca dao. Chàng trai trong ca dao thường mượn những cái cớ rất duyên dáng để hoặc làm quen hoặc tỏ tình với đối tượng của mình như quên áo, mời trầu… Chàng trai trong Tương tư của Nguyễn Bính cũng mượn chuyện trầu cau để giãi bày tâm  tư, khát vọng của mình :

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng”.

Thực ra khát vọng lứa đôi đã được nhà thơ nhen nhóm, gửi gắm qua các cặp đôi : thôn Đoài – thôn Đông, môt người – một người, gió mưa – tương tư, tôi – nàng, bên ấy – bên này, hai thôn – một làng, bến – đò. hoa khuê các – bướm giang hồ, nhà anh – nhà em, để rồi cuối cùng dừng lại ở cặp đôi giầu – cau

Nếu điệp từ “có” nhấn mạnh đến khả năng vật chất đủ cho sự tác thành lưá đôi, cả hai môn đăng hộ đối. Thì hình ảnh giàn giầu, hàng cau, lại gợi cho ta nhớ ngay đến cái đám cưới cổ truyền của dân tộc, nhớ đến một sự gắn bó chung thủy của lứa đôi, của hai tâm hồn đang hòa nhập làm một. Cách xưng hô của chàng trai đến đây cũng đã thay đổi, không còn là “thôn Đòai”, “thôn Đông” hay “bên ấy”, “bên này”, cũng không còn là “bến” – “đò” hay “hoa” – “bướm” mà đã trở thành “anh” và “em”. Điều đó thể hiện một khát khao gắn kết mãnh liệt, muốn cùng người mình yêu thương sống trọn đời trọn kiếp để tạo nên một cái kết có hậu và đẹp đẽ của mối duyên quê, chất phác, đậm đà.

Nhưng khép lại bài thơ, đọng lại trong tâm tưởng người đọc vẫn là :

 Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào ?

Nếu câu trên là sự khẳng định tình yêu của anh , thì câu sau lại là câu hỏi căn vặn về tấm lòng của em. Yêu tha thiết, nhớ mong đến khắc khoải, nhưng chàng trai cũng chẳng thể chắc chắn cô gái có đi cùng đường, sẽ gắn kết hòa hợp với mình trong cuộc đời hay không. Và vì thế tình yêu của chàng trai vẫn chỉ là khát vọng, vô vọng, vẫn chỉ là tương tư mà thôi

III/ KẾT LUẬN

 Đọc “Tương tư ta không chỉ thấy hồn quê Việt Nam thấm đượm trong từng dòng thơ, mà ta còn thấy  sự sáng tạo mới mẻ của hồn thơ Nguyễn Bính ”. Ông làm mới thể thơ lục bát qua cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu mới mẻ, linh động, thấm đẫm cái tình tứ Thơ Mới; không gian đồng quê được phủ lên cái tâm tư của con người hiện đại. Bằng cách ấy, nhà thơ đã viết thật hay về tình yêu- một thứ tình yêu trong sáng, đơn phương mà mạnh liệt.