Quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu qua bài Vội vàng

   I/ Mở bài :

Tác giả →Sự nghiệp →Vội vàng (hoàn cảnh ra đời → chủ đề →Quan niêm nhân sinh)

Xuân Diệu là nhà thơ lớn của văn học hiện đại Việt Nam. Ông để lại hàng chục tập thơ với trên dưới 1000 bài  thấm thía tình yêu cuộc sống nồng nàn. Một trong số những bài thơ tiêu biểu cho thơ Xuân Diệu là bài Vội vàng in trong tập Thơ thơ. Tập thơ được sáng tác trong những năm mười tám đôi mươi của của nhà thơ. Vội vàng là bài thơ thể hiện tình yêu nồng nàn của Xuân Diệu đối với cuộc sống tươi đẹp mà nhà thơ tự thấy phải gấp gáp nhận lấy.

II/ Thân bài :

1/

*/ Bài thơ  được mở đầu bằng bốn dòng thơ ngũ ngôn ngắn gọn, mạnh mẽ như lời tuyên bố về khát vọng của mình, về ước muốn của mình : Tôi muốn tắt nắng đi …đừng bay đi.

→Muốn tắt nắng đi, muốn buộc gió lại là nhà thơ muốn đoạt quyền của tạo hóa, muốn trái đất ngừng quay để lưu giữ mãi vẻ đẹp của đất trời.

→Một loạt các điệp ngữ « Tôi muốn », « đi », « cho » ; kết hợp với kết cấu lặp, Xuân Diệu không chỉ khiến cho cái tôi trữ tình của mình hiện lên đầy kiêu hãnh tự hào mà còn thể hiện dõng dạc tuyên ngôn sống táo bạo mãnh liệt của mình

*/ Sở dĩ có ước muốn táo bạo đó là bởi cái nhìn mới mẻ của nhà thơ với cuộc đời

-     Nếu cha ông ta cho rằng cuộc sống trần gian là bể khổ thì với cái nhìn trẻ trung tươi mới Xuân Diệu lại nhận thấy cuộc sống xung quanh mình là một thế giới tràn đầy hương sắc, một thiên đường trên mặt đất :

   “Của ong bướm này đây tuần tháng mật…gõ cửa”

→ Ở đây có ong bướm trong tuần tháng mật, khoảng thời gian ngọt ngào nhất, đẹp đẽ nhất;có hoa cỏ đồng nội với sắc màu tươi thắm nhất; có lá đang ở độ non tơ nhất và chim muông đang ca những khúc ca hạnh phúc nhất. Tất cả đang thấm đẫm một tình yêu say đắm ngọt ngào.. Thực ra thế giới tươi đẹp này, vườn xuân tươi đẹp này đâu phải bây giờ mới có.Nhà thơ không tạo ra thế giới mới nhưng có con mắt mới nhìn cuộc sống . Thoát khỏi hệ thống ước lệ phi ngã của văn chương cổ, cặp mắt non xanh của Xuân Diệu đã ngơ ngác và sung sướng trước một thiên đường phong phú và giàu có trên mặt đất, ngay trong tầm tay của mỗi người

→ Những câu thơ tám tiếng trải dài ra kết hợp nghệ thuật điệp cú pháp, đặc biệt một loạt điệp từ “này đây” đặt song song với nhau khiến lời thơ không chỉ là liệt kê, gợi mở  mà nó còn là sự mời chào những món ăn tinh thần sẵn có trong cái thiên đường phong phú và hấp dẫn ấy . Để rồi qua đó, nhà thơ muốn nói với chúng ta : Sao người ta cứ phái đi tìm bồng lai ở tận đâu đâu, cứ phải kiếm cõi niết bàn cực lạc ở mãi chốn mung lung hão huyền nào ? Nó ở ngay cuộc sống quanh ta đây, ngay trong giây phút hiện tại đây. Nó là cái hiện hữu, nhỡn tiền. Vậy còn chờ gì nữa, hãy yêu mến nó, hãy gắn bó và sống hết mình với cuộc sống thực tại này.Đây cũng là quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng có trong văn học trung đại.

_  Đối với ông, trong cõi trần gian, đẹp nhất là con người, đặc biệt là con người ở tuổi trẻ và tình yêu. Vì vậy, Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp, làm thước đo của cái đẹp:

   “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.

→Ánh sáng buổi sớm mai như được phát ra từ cặp mắt đẹp vô cùng của nàng công chúa có tên là Bình minh. Nàng vừa tỉnh giắc nồng suốt đêm qua. Nàng chớp chớp hàng mi rồi mở ra muôn ngàn tia sáng hào quang. Rõ ràng đây là hình ảnh so sánh mới mẻ độc đáo, lãng mạn giàu cảm xúc khác hẳn chuẩn mực thẩm mĩ của văn chương cổ

Đặc biệt là hình ảnh thơ “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

→Tháng giêng là tháng mở đầu của mùa xuân, mùa xuân là mùa mở đầu cho một năm mới nên tháng giêng gợi vẻ thanh tân, mơn mởn, tràn trề sức sống. Tháng giêng là khái niệm chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ thể hóa bằng tính từ chỉ vị giác ngon và phép so sánh “như một cặp môi gần”, cặp môi chín mọng, đợi chờ của người thiếu nữ. Từ “gần” gợi lên sự ấm áp, cái đẹp như kề bên, mời mọc, quyến rũ. Từ “ngon” gợi sự tận hưởng cái đẹp đến tuyệt đối. Phép so sánh “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” không chỉ diễn tả một tháng giêng tươi đẹp mà còn cho ta thấy cái nhìn đê mê, đắm say của Xuân Diệu trước cuộc đời. Ai đó thấy cuộc đời là buồn đau, vô nghĩa, ai đó cầu xin được chết… với Xuân Diệu cuộc đời là niềm vui. Mỗi ngày mới là thần vui đến gõ cửa. Mỗi mùa xuân đến lại bắt đầu bằng tháng giêng với nụ hôn mời mọc. Chưa ai có cái nhìn về cuộc đời đắm say và hân hoan như Xuân Diệu : Thiên đường ngay trên mặt đất, trong tầm tay của mỗi người. Và trong thiên đường ấy Con người hồng hào mơn mởn giữa tuổi yêu đương là đẹp nhất là thước đo thẩm mĩ của vũ trụ. Vẻ đẹp của con người trần thế là tác phẩm diệu kì nhất của tạo hóa toàn năng.Đó là ý nghĩa nhân bản mĩ học Xuân Diệu.

2/

*/ Đang ngây ngất tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời trong niềm vui hân hoan, phấn khởi thì cảm xúc của tác giả bất ngờ chuyển hướng

       Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa

→ Dấu chấm giữa dòng ngắt câu thơ thành hai phần, mạch cảm xúc bị đứt đoạn diễn tả cảm giác ngỡ ngàng, sững sờ khi bất chợt nhà thơ nhận ra bước đi nghiệt ngã của thời gian: Tạo hóa sinh ra con người, nhưng nó ngắn ngủi, mong manh. Con người  không phải còn mãi để hưởng lạc thú ở chốn địa đàng trần gian này

*/ Nhưng với một con người khao khát sống như Xuân Diệu, ông không chịu khuất phục trước bước đi của thời gian: “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Nhà thơ không hoài xuân khi tuổi xuân đã tàn, đã hết mà ông hoài xuân khi tuổi xuân đang mơn mởn, tràn đầy.

*/ Và trong sự hoài xuân ấy,

_ Nhà thơ suy tư về mối quan hệ giữa cái hữu hạn (cuộc sống của cá nhân ) với cái vô hạn( thời gian, đất trời )

        Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua…lần thắm lại

→ Mùa xuân là danh từ chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ thể hóa, vật chất hóa bằng các cụm từ: đương tới – đương qua, còn non – sẽ già. Sự trôi chảy của thời gian được diễn tả qua điệp từ “xuân” và các từ ngữ đối lập. Xuân đi qua sẽ mang theo thời gian và tuổi trẻ, không có gì bền vững trước thời gian:

→ lời thơ là lời tự bộc bạch của tác giả về mối quan hệ giữa mùa xuân và thời gian trôi chảy, giữa tuổi trẻ và thời gian trôi qua, giữa tôi và đất trời.

_Và trong sự trôi chảy của thời gian, nhà thơ phát hiện ra mâu thuẫn giữa tôi và đất trời   “Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại – Còn đất trời nhưng chẳn còn tôi mãi”            

→Vũ trụ có thể còn vĩnh viễn, mùa xuân của đất trời có thể tuần hoàn, nhưng tuổi trẻ một đi không bao giờ trở lại, đời người không thể còn mãi với thời gian.

→Thực ra từ xa xưa, văn chương cổ đã từng than thở về sự ngắn ngủi của kiếp người. Người ta gọi là áng phù vân hoặc là bóng câu qua cửa sổ. Nhưng hồi ấy người ta vẫn ung dung bình tĩnh, vì cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng. Con người gắn làm một với vũ trụ, cho nên con người chết chưa hẳn là hư vô, vẫn có thể cùng cộng đồng và trời đất tuần hoàn. Nhưng niềm tin ấy đâu còn ở các thế hệ nhà thơ mới. Họ đã ý thức được cái tôi cá nhân, ý thức được sự thật đáng buồn

      Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

      Còn đất trời nhưng chẳn còn tôi mãi  

 

→ do sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân nên ông đã có những quan niệm mới mẻ về thời gian và kiếp người. Với ông, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, mất thời gian là mất tuyệt đối:

*/ Trong cái bao la của vũ trụ, cái vô hạn của thời gian, sự có mặt của con người quá ư là ngắn ngủi nên nhà thơ ngậm ngùi, xót xa:

     “Còn trời đất nhưng … Nên bâng … độ phai tàn sắp sửa”

→Ý thức được sự hữu hạn của con người trong cái bất tận của thời gian nên mỗi ngày qua, nhà thơ lại bị giằng xé giữa niềm vui và nỗi đau: Vừa mới buổi sớm thần vui đến gõ cửa mà buổi chiều đã rớm vị chia phôi, khắp sông núi đã than thầm tiễn biệt. Nhà thơ như nghe trong mỗi cơn gió, tiếng chim là khúc biệt li. Mỗi ngày qua là quĩ đời ngắn lại. Yêu đời và tiếc đời là hai mạch cảm xúc của Xuân Diệu với cuộc đời.

3/

Nếu như lòng ham sống đã khiến thi sĩ lo âu trước bước đi của thời gian thì cũng chính lòng ham sống ấy đã khiến Xuân Diệu tìm ra một lối thoát. Lối thoát ấy nằm gọn trong hai chữ “vội vàng”.

Đoạn thơ cuối là khao khát sống vội vàng. Ám ảnh sống vội vàng đã thúc giục nhà thơ sống cao độ, mạnh mẽ ngay trong những giây phút của tuổi thanh xuân. Câu thơ cuối đoạn hai như một hiệu lệnh:        Mau đi thôi. Mùa chưa ngả chiều hôm

Giữa những câu thơ dài, câu thơ đầu đoạn ba lại là một câu thơ ngắn chỉ gồm ba chữ: “Ta muốn ôm” thắp ngay giữa bài thơ làm ta liên tưởng đến một vòng tay lớn như muốn quấn quýt, níu giữ cả đất trời. Cách xưng hô của Xuân Diệu cũng thay đổi từ “tôi” sang “ta”. Nhà thơ như muốn bứt ra khỏi giới hạn của cái tôi chật chội để trở thành cái ta rộng lớn sánh ngang cùng trời đất đầy kiêu hãnh, tự hào. Tiếp theo là những câu thơ dài với nhịp gấp gáp như giục giã những khát vọng cháy bỏng trong tâm hồn nhà thơ. Vẫn là ước muốn sống hòa nhập với cuộc đời, tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời nhưng ở đây đó không chỉ là ước muốn của cá nhân mà là của cả cộng đồng. Nếu như ở đoạn đầu bài thơ, điệp từ “này đây” như sự chào mời, vẫy gọi, khẳng định vẻ đẹp nơi trần gian là có thật thì ở đoạn cuối bài thơ, điệp từ “ta muốn” như sự hưởng ứng đầy hăm hở, nhiệt tình. Từ “ta muốn” lại kết hợp với những động từ chỉ trạng thái yêu đương trong quan hệ tăng tiến: ôm, riết, say, thâu, cắn diễn tả sự thụ hưởng ngày càng đê mê, say đắm. Trái tim nhà thơ như muốn mở căng ra để thu hết vào đó cả thiên nhiên, đất trời và như thế, ông trở thành một tình nhân cương tráng của cuộc đời. Với nhà thơ Xuân Diệu, cuộc đời không chỉ được định nghĩa bằng tốc độ mà còn định nghĩa bằng cường độ, một cường độ hừng hực chất Xuân Diệu. Trong cái nhìn xanh non, biếc rờn của nhà thơ, cuộc đời như một thiếu nữ trẻ trung với đôi môi, đôi má hồng xinh xắn mà nhà thơ không nén nổi lòng yêu:

Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi

Từ cắn được dùng hết sức táo bạo, mới mẻ diễn tả sự thụ hưởng đến tuyệt đối. Nhà thơ đã chiếm lĩnh được cái đẹp trong ngây ngất, đắm say.

III/ Kết luận

Ghi nhớ : SGK

 

 

 

 

Chúc mừng năm mới 2015

Chúc mừng năm mới 2015

tetdong8uuu

Xuất dương lưu biệt Phan Bội Châu

A/ Mở bài 

: PBC là lãnh tụ của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ, là cái tên đẹp nhất một thời. Sự nghiệp cứu nước của ông không thành nhưng tấm lòng yêu nước của ông còn mãi với muôn đời. Lãnh tụ Nguyễn ái Quốc từng suy tôn ông là “bậc anh hùng vị thiên sứ được 25 triệu đồng bào tôn kính.

Sinh ra giữa cuộc đời, ông không hề nghĩ mình là nhà văn. Nhưng thực tế trên bước đường hoạt động cách mạng, ông đã trở thành nhà văn lớn của dân tộc. Tên tuổi củaông gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế, vài ba vở tuồng chan chứa tình yêu nước. Đúng như lời thơ của Tố Hữu “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng”.Thơ văn của ông là thành tựu rực rỡ nhất của thể loại văn chương tuyên truyền cổ động.

B/ Thân bài

I/ Hoàn cảnh sáng tác

1905, đất nước vẫn còn tăm tối nhưng phong trào cách mạng đã bắt đầu hé lên. Theo chủ trương của Duy Tân hôi do chính ông sáng lập, ông bắt đầu sang Nhật để tìm đường cứu nước. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” ông làm tặng các đồng chí trong buổi đầu lên đường.

II/ Phân tích :

1/ Hai câu đề  :      Làm trai phải lạ ở trên đời

                                Há để càn khôn tự chuyển dời

ở hai câu đề tác giả nêu nên vấn đề            

*/Chí làm trai.

-  Chí làm trai vốn là quan niệm nhân sinh thời phong kiến.

Làm trai phải tề gia trị quốc bình thiên hạ, tức là phải nên công dánh sự nghiệp, phải để lại tiếng thơm cho đời, phải thoả chí tang bồng …

Quan niệm đó ít nhiều có liên quan đến tư tưởng nam tôn nữ ti. Bên cạnh mặt tiêu cực, nó cũng có mặt tích cực. Chính trong cái tích cực, cái hùng khí của lý tưởng nhân sinh ấy đã giúp không ít người làm nên sự nghiệp hiển hách : Với Phạm Ngũ Lão “Công danh nam tử còn vương nợ”; Với Nguyễn Công Trứ “Chí làm trai nam bắc tây đông, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển”.

Còn với Phan Bội Châu, Ông nghĩ đến chí làm trai trong sự nghiệp cứu nước với một cảm hứng, một ý tưởng thật lớn lao mãnh liệt:

  • Phải lạ ở trên đời

Làm trai phải lạ ở trên đời có nghĩa là phải làm một việc gì đó khác lạ lớn lao cho cuộc đời, không sống tầm thường thụ động. Nói cách khác làm trai trong điều kiện hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ thì cái “lạ ở trên đời” chỉ có thể là xoay trời chuyển đất, làm một cái gì đó lớn lao cho dân cho nước, chứ không phải chỉ lấy vợ đẻ con rồi cuối cùng đắm chìm trong cánh tay của vợ (mà sau này Chế Lan Viên đã nói “Lũ chúng ta ngủ… xuống tâm hồn”.

Trong hai câu đề, bên cạnh chí làm trai, tác giả còn xác định

*/ Tư thế của con người trước vũ trụ :

  • Há để càn khôn tự chuyển dời

Càn khôn là đất trời. Há để trời đất tự xoay chuyển. Không ! Tự mình phải chủ động tham gia vào quá trình chuyển xoay đó, chứ không thể ngồi chờ đợi một cách thụ động vô vị và nhạt nhẽo.

è Câu thơ mang dáng dấp một câu hỏi, hỏi nhưng hàm ý khẳng định vai trò chủ độn của con người trước vũ trụ.

 Như vậy , từ quan niệm về chí làm trai, Phan Bội Châu đã thể hiệnè một tư thế, một tâm hồn rất đẹp của chí làm trai.

Có thể nói cảm hứng và ý chí của Phan Bội Châu thật táo bạo và tràn đầy hùng tâm tráng khí. ở vào hoàn cảnh nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX, khi phong trào Cần vương cuối cùng đã thất bại, khi con đuờng cứu nước còn đang đen tôi, thì việc thức tỉnh chí làm trai, xác định rõ vai trò của con người đối với non sông của nhà chí sĩ yêu nước là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trọng đại. Hai câu đề ngắn gọn nêu bật được tư thế có tính chất vũ trụ của người thanh niên yêu nước có chí hướng, có bản lĩnh.

2/ Hai câu thực  :

          Trong khoảng trăm năm cần có tớ

          Sau này muôn thuở há không ai.

Từ chí làm trai, Phan Bội Châu đặt ra vấn đề

*/ vai trò  của cái tôi .

“Trong khoảng trăm năm cần có tớ”,

- “Ngã” nghĩa là “ta” mà bản dịch dịch là “tớ”.

Ta (hay “tớ”.) ở đây không ai khác chính là nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Trong khoảng trăm năm của cuộc đời con người, ta sẵn sàng gánh vác trách nhiệm đối với non sông đất nước. Đây không phải là sự vỗ ngực khoa trương để hưởng thụ mà câu thơ khẳng định niềm tự hào, ý thức trách nhiệm lớn lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan.

Nói cách khác, câu thơ là èsự ý thức rõ ràng về cái tôi cống hiến, cái tôi trách nhiệm lớn lao đáng kính trước lịch sử và xã hội.

ý tưởng đẹp đẽ này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các bậc vĩ nhân trong lịch sử “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”(Trần Quốc Tuấn), “Trời thử lòng trao cho mệnh lớn, ta gắng chí khắc phục gian nan”(Nguyễn Trãi).

Trong mối quan hệ giữa chí làm trai và ý thức về cái tôi, câu tiếp theo, Phan Bội Châu đưa ra

*/ Quan niệm mới về chữ danh (vinh)

Sau này muôn thuở há không ai ?

câu thơ trên hiểu

 Chẳng nhẽ sau này lại không có ai dám xả thân gánh vác trách nhiệm đối với đất nước ? Điều đó là không thể có ở một dân tộc mà lịch sử dụng nước luôn gắn liền với giữ nước, luôn đề cao chí làm trai, chí nam nhi. Vậy trong khoảng trăm năm của cuộc đời ta, ta hãy cứ xả thân , gánh vác trách nhiệm đối với giang sơn đất nước đi. Nhất định sau này (nghìn năm sau) sẽ có người kế tục sự nghiệp vẻ vang của ta.

Nhưng ta cũng có thể hiểu theo một ý khác : Chẳng lẽ sau này không ai còn nhớ đến những người đã dám xả thân vì nước. Điều đó là vô lý, không đúng với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Những tấm gương đó mãi mãi là được líc sử ghi nhận. Vậy còn đợi gì nữa mà không xả thân vì nước để được lưu danh thiên cổ.

Dù hiểu theo cách nào, chúng ta cũng thấy: èCâu thơ như một câu hỏi, hỏi mình, hỏi người, hỏi thời đại. Hỏi đấy nhưng cũng giục giã đấy. Giục giã mọi người hãy xả thân vì nước để được lưu danh thiên cổ.

 Nên bản chất chữ danh mà Phan Bội Châu đưa ra không phải chữ danh lợi tầm thường mà nó là èchữ danh gắn với lợi ích của giống nòi.

Hai câu 3-4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định, lấy cái hữu hạn(bách niên –1 cuộc đời) đối với cái vô hạn( thiên tải của lịch sử của dân tộc). Phan Bội Châu đã tạo ra một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, biểu lộ một quyết tâm và khát vọng trong buổi đầu lên đường.

Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được ý thức về cái tôi về sự lưu danh thiên cổ bằng sự nghiệp cứu nước quả là cao cả vô cùng.

3/ Hai câu luận  :

                  Non sông đã chết sống thêm nhục

                  Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

Đưa ra vấn đề lưu danh thiên cổ, tức là Phan Bội Châu đã đưa ra quan niện về cái vinh. Vậy ông có suy nghĩ như thế nào về nỗi nhục ?

*/ Suy nghĩ về nỗi nhục

Đối với Phan Bội Châu, lưu danh thiên cổ bằng sự xả thân vì nước thì nỗi nhục đối với ông là nỗi nhục mất nước

  • Non sông đã chết sống thêm nhục.

Non sông đã chết tức là non sông đã bị giặc ngoại bang xâm chiếm, giày xéo. Thân phận dân ta lúc đó cũng chỉ như kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Sống mà như đã chết.

èĐó là nỗi vinh nhục gắn với vận mệnh đất nước, mang ý nghĩa lớn lao.

Quả thực suốt cuộc đời mình, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình và rồi cả những người cộng sản sau này đã sống và chết theo quan niệm như vậy.

Sang câu thơ tiếp theo :

_ Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

Phan Bội Châu đã nêu nên thái độ đối với nền học vấn cũ trước vận mệnh đất nước lầm than.

- Hiền thánh : chỉ sách vở của thánh hiền. Tức là sách vở chỉ dẫn dăn dạy những điều hay lẽ phải(thậm chí cả thuật trị nước) theo lý tưởng phong kiến.

 Còn giờ đây, trong cảnh nước mất nhà tan, có sôi kinh nấu sử, có chúi đầu vào con đường khoa cử hỏi cũng có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà. Sách vở thánh hiền lúc này đâu còn là kim chỉ nam nên Phan Bội Châu mới nói

- Học cũng hoài nghĩa là : học cũng chẳng giúp được gì . Và như thế Phan Bội Châu đã nêu nênè ý định từ bỏ sách vở, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, muốn tề gia trị quốc bình thiên hạ thì phải gắn với cửa khổng sân trình, đỗ đạt làm quan. Nên mới có một Tú Xương tron đời cắp sách đi thi mong đỗ ông nghè ông cống giúp dân giúp đời. Phan Bội Châu cũng là người của cửa khổng sân trình mà lại có ý tưởng từ bỏ sách vở thì quả là một ý tưởng mới mẻ có ý nghĩa tiên phong đối với thời đại.Có được ý tưởng đó là nhơ tinh thần dân tộc cao độ, nhờ ở nhiệt huyết cứu nước và cả luồng ánh sáng mới về ý thức hệ mà Phan Bội Châu đón nhận qua phong trào tâm thư đầu thế kỷ.

4/ Hai câu kết

Hai câu kết là hệ quả tất yếu nảy sinh từ quan niệm trên, ý nghĩ trên. Bài thơ kết lại trong tư thế hăm hở sôi trào của buổi đầu lên đường xuất dương cứu nước.

Nguyên văn chữ Hán là:

 Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

                                          

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Thơ dịch dù hay cũng có phần hao hụt.

*/Câu 7 dịch là :Muốn vượt biển Đông theo cánh gió” là sát nghiã . Nhưng sang */câu 8 “ muôn lớp sóng bạc cùng một lúc bay lên”.Đó là hình ảnh thơ kỳ vĩ lãng mạn, đầy phấn kích. Nhưng người dịch dịch là “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”, thì quả là đã èđánh mất cái tư thế trào lên, dâng lên, chỉ còn lại cái không khí êm ả của buổi lên đường. Điều đó è không phù hợp với không khí chung của toàn bài.

C/ Kết luận

Bài thơ thể hiện vẻ đẹp trong tư thế, trong ý nghĩ, trong nhiệt tình và quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của tác giả – nhà cách mạng lớn.

Bài thơ chỉ có 56 chữ mà chứa đựng một nội dung tư tưởng vừa phong phú, vừa lớn lao : Có chí làm trai, có khát vọng xoay trời chuyển vũ trụ, có hoài bão lưu danh thiên cổ, có quan niệm vinh nhục ở đời, có thái độmới mể và táo bạo về sách vở của thánh hiền, có tư thế ra đi cứu nước. Tất cả thể hiện một nhiệt tình cứu nước sôi sục tuôn trào.

Nói đến thơ hay là phải nói đên giọng điệu riêng. “Xuất dương lưu biệt” có cái giọng điệu riêng đó, chính là giọng điệu tâm huyết tuôn trào

 

Nhớ ngày này 24 năm trước

tawngj-hoa-em-2

MẸ ƠI HÔM NAY SINH NHẬT CON !

Ngày này cách đây 54 năm, con đã được cất tiếng khóc chào cuộc đời. Chắc ngày ấy, mẹ vượt cạn vất vả và đau đớn lắm phải không ạ
Nhất lại là thời chiến, mẹ cùng ba phải đưa công nhân sơ tán khắp nơi. Đi lại ,sinh hoạt vô cung khó khăn vất vả. Ấy vậy mà mẹ vẫn sinh hạ con an toàn khỏe mạnh, cho con có mặt trên thế gian này. Suốt 54 năm qua, cùng với các anh chị em, con là đứa khiến mẹ phải bận tâm lo lắng nhiều nhất. Bởi cả tuổi ấu thơ , con luôn ốm đau bệnh tật. Chiến tranh bom đạn là vậy mà ba đèo con đi hêt bệnh viện này đến bệnh viện khác. Mẹ không đi được xe đạp nhưng cũng lếch thếch cõng con chữa chạy khắp nơi. Bao nhiêu đường đất, bao nhiêu nỗi lòng lo toan vất vả của ba mẹ. Đến bây giờ con vân không thể quên cái dáng tất tả của mẹ trong bộ quần láng đen và áo màu xanh trứng sáo.(hình như cái áo ày mẹ vẫn mặc trong ngày cưới của con thì phải) Mẹ đã cõng con đi về trên con đường Lạc Long Quân không biết bao nhiêu lân rồi mẹ nhỉ. Và bao nhiêu bước chân của mẹ là bấy nhireu nỗi lòng mẹ lo lắng cho con. Rồi khi con lớn lên đi học, đi công tác xa nhà, lấy chông. Khó khăn thiếu thốn và cả những đau đớn mất mát bất hạnh nhất của cuộc đời con đã từng trải qua. Những lúc như thế, con luôn có mẹ vỗ về an ủi. Mẹ là chỗ dưa tinh thần vững chắc cho con đê con có thể đi tiếp đường đời chông gai của mình
Hôm nay là ngày sinh của con và cũng là sinh nhật đầu tiên con không được nhận lời chúc từ mẹ. Nhơ mé, muốn cảm ơn báo hiếu mẹ cũng không được nữa rồi. Nhưng con sẽ sống tốt để mẹ không còn phải lo lắng vì con nữa. Mẹ ơi, con yêu mẹ biết bao!

DSC_0515

Chúc mừng anh nhân ngày nhà giáo Việt Nam

0-sach__dong_2

MẸ ƠI HÔM NAY SINH NHẬT CON !

Ngày này cách đây 54 năm, con đã được cất tiếng khóc chào cuộc đời. Chắc ngày ấy, mẹ vượt cạn vất vả và đau đớn lắm phải không ạ
Nhất lại là thời chiến, mẹ cùng ba phải đưa công nhân sơ tán khắp nơi. Đi lại ,sinh hoạt vô cung khó khăn vất vả. Ấy vậy mà mẹ vẫn sinh hạ con an toàn khỏe mạnh, cho con có mặt trên thế gian này. Suốt 54 năm qua, cùng với các anh chị em, con là đứa khiến mẹ phải bận tâm lo lắng nhiều nhất. Bởi cả tuổi ấu thơ , con luôn ốm đau bệnh tật. Chiến tranh bom đạn là vậy mà ba đèo con đi hêt bệnh viện này đến bệnh viện khác. Mẹ không đi được xe đạp nhưng cũng lếch thếch cõng con chữa chạy khắp nơi. Bao nhiêu đường đất, bao nhiêu nỗi lòng lo toan vất vả của ba mẹ. Đến bây giờ con vân không thể quên cái dáng tất tả của mẹ trong bộ quần láng đen và áo màu xanh trứng sáo.(hình như cái áo ày mẹ vẫn mặc trong ngày cưới của con thì phải) Mẹ đã cõng con đi về trên con đường Lạc Long Quân không biết bao nhiêu lân rồi mẹ nhỉ. Và bao nhiêu bước chân của mẹ là bấy nhireu nỗi lòng mẹ lo lắng cho con. Rồi khi con lớn lên đi học, đi công tác xa nhà, lấy chông. Khó khăn thiếu thốn và cả những đau đớn mất mát bất hạnh nhất của cuộc đời con đã từng trải qua. Những lúc như thế, con luôn có mẹ vỗ về an ủi. Mẹ là chỗ dưa tinh thần vững chắc cho con đê con có thể đi tiếp đường đời chông gai của mình
Hôm nay là ngày sinh của con và cũng là sinh nhật đầu tiên con không được nhận lời chúc từ mẹ. Nhơ mé, muốn cảm ơn báo hiếu mẹ cũng không được nữa rồi. Nhưng con sẽ sống tốt để mẹ không còn phải lo lắng vì con nữa. Mẹ ơi, con yêu mẹ biết bao!

Một chút suy ngẫm

Con người có thể hữu tình, nhưng tạo hóa thì không ! Nó cứ lầm lũi vận hành theo đúng qui luật của mình.Hết hạ sang thu…Hôm qua trên giàn cây còn xanh tươi mơn mởn, hoa nở rực rỡ. Sáng ra, lá vàng rực chen lẫn bên những cánh hoa. Mùa đông đã về thực rồi… Cho dù không muốn, nhưng cây vẫn phải trút lá tích nhựa để mùa xuân đâm chồi. Cũng như chi em chúng ta, cho dù một thời rực rỡ vàng son, với ngàn vạn lời chúc tụng yêu chiều của các anh em thì bóng thời gian vẫn phủ đầy :
Bóng thời gian của em
Là vết nhăn trên má
Là vết nám trên da
Là mái tóc pha sương
Là trải nghiệm vui buồn
Cứ dài theo năm tháng
Một chút ngậm ngùi phải không ? Nhưng cũng là hợp qui luật. Chúng ta cũng đang tích nhựa cho những chồi non của tương lai lung linh tỏa sáng. Trách nhiệm thật nặng nề những cũng vinh dự và tự hào biết bao !
Nên cho dù phía trước là dông bão của cuộc đời, chúng ta vẫn phải bước tiếp và sống hết mình Chúc các chi em luôn vui khỏe trẻ đẹp để đi tiếp con đường chông gai của mình. Chúc các con – những thế hệ của tương lai- luôn làm vui lòng các bậc sinh thành

Chúc mừng sinh nhật các con

 

 

chúc-mừng-SN-các-con